Văn hóa, văn minh và đô thị – P3

Sang thời nhà Chu (khoảng năm 1066 – 771 tCn): là một bộ lạc cư trú ở thượng lưu Hoàng Hà (vùng Thiểm Tây, Cam Túc ngày nay), thủy tổ của tộc Chu trồng lúa giỏi được tôn làm thần nông nghiệp. Bị người Nhung lấn chiếm, bộ tộc này đã dời từ đất Mân đến đất Kỳ (Thiểm Tây) và định cư ở cánh đồng Chu. Tại đây, tộc Chu làm nhà cửa, xây thành quách, bước đầu tổ chức xã hội. Chiến tranh với bộ lạc xung quanh đã đem lại cho tộc Chu nhiều chiến lợi phẩm và nô lệ, đẩy nhanh sự phân hóa giai cấp trong bộ tộc. Nước Chu không ngừng phát triển và mở rộng đến tận vùng Trường Giang, trong khi đó thì nước Thương ngày càng suy yếu, đất đai nhà Chu đã được mở rộng đến tận biển Đông. Nhà Chu đã thi hành chính sách phân phong đất đai cho những người cùng họ, lập nên một hệ thống các nước chư hầu.

Về công cụ sản xuất, thời Tây Chu chưa có tiến bộ nhiều nhưng việc quy hoạch đồng ruộng gắn với hệ thống tưới nước làm cho sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển đáng kể. về thủ công nghiệp, các nghề đúc đồng thau, và các nghề làm đồ gốm, đồ đá, đồ ngọc, xương da, gỗ, nghề dệt… đều đạt đến trình độ khá cao, đặc biệt nghề đúc đồng tăng nhiều so với đời Thương. Trên đồ đồng thường có khắc chữ nói về việc ban thưởng ruộng đất, nô lệ và những vấn đề liên quan đến chính trị, xã hội…
Ở Trung Quốc cổ đại, những nghề thủ công quan trọng như nghề đúc đồng, làm vũ khí, xe thuyền, đồ ngọc… đều do nhà nước quản lý, thợ thủ công lệ thuộc vào nhà nước. Nền kinh tế mang nặng tính tự nhiên, những nhu cầu trong đời sống hàng ngày của nhân dân đều dựa vào kinh tê’ tự cấp tự túc. Sản xuất chủ yếu phục vụ giai cấp quý tộc tuy việc trao đổi mua bán cũng đã diễn ra trong phạm vi cả nước. Nhiều sản phẩm thủ công sản xuất ở hạ lưu Trường Giang được tiêu thụ tận vùng trung lưu Hoàng Hà.

Văn hóa, văn minh và đô thị - P3 1

Thời Chiến Quốc, Trung Quốc có nhiều biến đổi lớn về kinh tế, đặc biệt nghề luyện sắt phát triển cao và đồ dùng bằng sắt đã phổ biến hơn so với thời Xuân Thu. Các nước đều có những trung tâm luyện sắt như Hàm Đan nước Triệu, Uyển nước sở, Đường Khê nước Hàn, Lẩm Truy nước Tề… đã thúc đẩy sự phát triển thủ công nghiệp. Đồ chạm và dát vàng bạc, hàng dệt lụa và đồ sơn cũng là những sản phẩm tinh xảo của thời Chiến Quốc. Buôn bán phát triển và những thành thị lớn xuất hiện như Lâm Truy nước Tề, Hàm Đan nước Triệu, Khai Phong nước Ngụy… Để đáp ứng nhu cẩu thương nghiệp, các thành thị lớn tự chê’ ra tiền đúc bằng đồng hoặc bằng vàng. Nhiều thương nhân lớn xuất hiện, cho vay nặng lãi, tích trữ đầu cơ hoặc vận chuyển hàng hóa đi các nơi xa buôn bán. Những biến đổi về kinh tế, xã hội đã thúc đẩy sự phát triển về Văn hóa, khoa học và nghệ thuật.

Từ thời nhà Thương có lịch để phục vụ yêu cầu sản xuất nông nghiệp. Dùng tuần trăng tròn và khuyết để tính tháng, năm, tháng thiếu, tháng đủ, năm nhuận, đó là âm lịch vẫn được dùng song song với dương lịch. Khoa thiên văn học ra đời từ lâu, đến thời Xuân Thu – Chiến Quốc đạt được những tiến bộ lớn. Trong các sách thiên văn học của Can Đức người nước Sở, và Thạch Thân người nước Ngụy đã ghi chép được 800 vị tinh tú, xác định vị trí 120 vị tinh tú. Dựa theo vị trí của 28 ngôi sao trên xích đạo thiên cầu để phân chia toàn bộ bầu trời thành 28 “túc” từ đó phân biệt được thời tiết trong năm, như lập xuân, xuân phân, lập thu, thu phân, lập hạ, hạ chí, lập đông, đông chí.

Văn hóa, văn minh và đô thị - P3 1
Một số kiến trúc

Y học đã biết giải phẫu cơ thể con người, biết nội tạng và bộ máy tuần hoàn, nghiên cứu nguyên nhân bệnh tật, dùng phương pháp nhìn, nghe, hỏi, bắt mạch để chẩn đoán bệnh, dùng châm cứu và thuốc sắc để trị bệnh. Bộ sách tổng kết về y học và dược học “Hoàng đế nội kinh” chuyên nghiên cứu về sinh lý và cách chữa bệnh cho con người.

Nhiều nhà tư tưởng lớn đã cống hiến cho sự phát triển của nền văn minh của Trung Quốc: đặc biệt là Khổng Tử (551 – 480 tCn). ông người nước Lỗ, là một nhà tư tưởng và giáo dục lớn, người sáng lập phái Nho gia. Tuy tin là có thượng đế, có trời, nhưng Khổng Tử không tin vào “thiên mệnh”, mà yêu cầu con người phải tự lực trong đời sống hiện thực, chú ý học hỏi và tu dưỡng đạo đức. Ông theo đuổi sự nghiệp giáo dục, đã đạt được những thành tựu rực rỡ. Ngoài phái Nho gia của Khổng Tử, còn xuất hiện phái Mặc gia do Mặc Tửsáng lập, phái Đạo gia do Lão Tửđề xướng và Trang Tửkế tục, phái Pháp gia mà đại biểu kiệt xuất là Hàn Phi Tử cùng rất nhiều trường phái và học thuyết chính trị, xã hội khác tạo nên một phong trào văn hóa tư tưởng rất phong phú và sôi động. Trong thời kỳ cổ đại, thế giới quan duy vật đã phát sinh và phát triển. Hình thức sơ khai với thuyết ngũ hành cho rằng có năm yếu tố cấu thành thế giới vật chất: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ và thuyết âm dương về hai thế lực vật chất của thế giới tự nhiên đối lập nhau, bổ sung cho nhau, giải thích nguồn gốc sự biến hóa của mọi hiện tượng tự nhiên.

Ngay từ khi tộc Chu mới phát triển, người Chu có quan niệm thế giới là do 8 loại vật chất: trời, đất, hồ, núi, lửa, nước, sét, gió tạo thành và đã đặt ra 8 quẻ để biểu thị 8 loại này, đó là càn (trời), khôn (đất), cấn (núi), đoài (hồ), ly (lửa), khảm (nước), chấn (sét), tốn (gió). Mỗi quẻ được biểu thị bằng ba nét vạch liền hoặc đứt… được sắp xếp theo những cách riêng. Vạn vật trong trời đất đều do sự biến động, sự kết hợp hoặc mâu thuẫn của 8 loại đó mà sinh ra, đó là thuyết bát quái.

Nền văn học Trung Quốc đã có những tác phẩm kiệt xuất như Kinh Thi, Sở Từ. Kinh Thi phản ánh tình hình xã hội Trung Quốc về nhiều mặt trong khoảng thời gian 600 năm từ Tây Chu đến cuối Xuân Thu, trong đó Khổng Tử đã có công đúc kết, chỉnh lý các bài thơ thành một cuốn sách kinh điển để dạy học trò với ba phần: Phong, Nhã, Tụng. Phong là dân ca của các nước, còn gọi là Quốc Phong. Nhã gồm hai phần là Tiểu Nhã và Đại Nhã. Tụng có Chu Tụng, Lỗ Tụng, Thương Tụng là những bài thơ do các quan phụ trách việc tế lễ, bói toán sáng tác dùng để hát khi cúng tế ở miếu đường.