Văn hóa, văn minh và đô thị – P2

Vùng lịch sử nguyên thủy của Trung Quốc ở phía bắc Hà Nam ngày nay. Tại đây, nền canh tác thời kỳ đồ đá mới (4000 trước công nguyên) phát triển nhờ quá trình thuần hóa cây kê trên nền đất vàng màu mỡ. Từ vùng này, đến năm 2.500 trước công nguyên, nông nghiệp phát triển về mọi phía và lan sang lưu vực sông Dương Tử. Khi nông nghiệp phát triển xuống miền nam có khí hậu ấm áp hơn, một loại cây lương thực chủ yếu khác bắt đầu được canh tác là cây lúa nước.

Văn hóa, văn minh và đô thị - P2 1

Trung Quốc cũng là nơi từ rất sớm đã có loài người cư trú. Năm 1929, ở Chu Khẩu Điếm (tây nam Bắc Kinh) đã phát hiện xương hóa thạch của người vượn sống cách đây khoảng 40 vạn năm. Người Trung Hoa coi thủy tổ dân tộc mình là Hoàng Đế, ông mang họ Công Tôn, hiệu Hữu Hùng Thị, sinh ở Thọ Khâu, lớn lên ở Cơ Thủy, sống trên đồl Hiên Viên, nên còn gọi là Hiên Viên Hoàng Đế. Là thủ lĩnh của một bộ tộc phát tích ở Thiểm Tây, ông liên kết với bộ tộc của Viêm Đế ở lưu vực sông Hoàng Hà đánh bại bộ tộc Cửu Lê của Suy Vưu, sáp nhập một bộ phận dân cư cửu Lê, rồi cùng nhau khai phá, mở mang lưu vực Hoàng Hà và tiến về phía Đông. Vua Thuấn truyền ngôi cho vua Vũ, mở đầu thời kỳ Tam Vương. Vua Vũ lập nên nhà Hạ và đến đây lịch sử Trung Quốc bắt đầu.

Về mặt chủng tộc, cư dân lưu vực Hoàng Hà thuộc Mông cổ, trong đó hai tộc người hình thành sớm ở đây là Hạ ở trung lưu và Thương ở hạ lưu. Đến khoảng thế kỷ XVI tCn, Hạ bị Thương chinh phục, phân tán đi các nơi, một bộ phận lùi về Tây Bắc sau trở thành tộc Chu. Thế kỷ XI tCn, Chu tiêu diệt Thương thúc đẩy sự đồng hóa giữa Hạ và Thương hình thành bộ tộc thống nhất là Hoa Hạ (cũng gọi là Hoa hoặc Hạ), là tiền thân của tộc Hán sau này. Trong khi đó vùng lưu vực Trường Giang là địa bàn các nước sở, Ngô, Việt và một số tộc thiểu số khác. Đến thời Xuân Thu, các tộc này cũng bị Hoa Hạ đồng hóa.

Văn hóa, văn minh và đô thị - P2 1

Theo truyền thuyết từ thời Hoàng Đế (khoảng nửa đầu thiên kỷ III tCn), Trung Quốc đã có chữ viết, nhưng cho đến nay loại chữ viết sớm nhất được phát hiện là chữ viết đời Thương. Đó là một loại chữ tượng hình khắc trên mai rùa và xương bò (gọi là chữ giáp cốt). Thời Tây Chu chữ được ghi lại trên các đỉnh đồng, gọi là kim văn.
Thời Xuân Thu Chiến Quốc, chữ viết càng phát triển với các loại chữ đại triện và tiểu triện. Chất liệu dùng để viết chữ thời kỳ này là các thẻ bằng tre. Chữ giáp cốt, chữ kim văn, chữ đại triện, chữ tiểu triện là những chặng đường phát triển đầu tiên của chữ Hán sau này.

Nhờ có chữ viết xuất hiện sớm và việc ghi chép sử được chú ý, từ thời cổ đại Trung Quốc đã có nhiều tác phẩm sử có giá trị. Quyển sử ra đời đầu tiên được bảo tồn đến ngày nay là quyển Xuân Thu do Khổng Tử chỉnh lý nói về sử nước Lỗ nhưng cũng phản ánh cả lịch sử Trung Quốc (từ năm 722 đến năm 481 tCn). Sau đó tác phẩm sử học có giá trị nhất là Tả truyện. Đến thời Chiến Quốc có các sách như Quốc Ngữ, Chiến Quốc sách, Lã Thị Xuân Thu… Đến thời Hán, bộ sử ký của Tư Mã Thiên được biên soạn có hệ thống.

Trên lãnh thổ rộng lớn của Trung Quốc, giới khảo cổ học đã phát hiện được rất nhiều hiện vật thuộc các thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá giữa, đồ đá mới, đồ đổng, đồ sắt, tiêu biểu là Văn hóa Ngưỡng Thiều phát hiện năm 1920 tại thôn Ngưỡng Thiều thuộc tỉnh Hà Nam. Sau đó tại các tỉnh Sơn Tây, Cam Túc, Thanh Hải… cũng phát hiện được những di chỉ thuộc văn hóa Ngưỡng Thiều có niên đại 4500 – 2500 tCn. Tiếp theo là văn hóa Long Sơn phát hiện năm 1928 ở trấn Long Sơn gần Tế Nam tỉnh Sơn Đông phân bố rất rộng từ Sơn Đông đến Thiểm Tây, và từ Liêu Đông đến Chiết Giang, niên đại văn hóa Long Sơn khoảng 2100 – 1800 tCn.

Vào thời nhà Hạ (khoảng thế kỷ XXI – XVI tCn) nhà nước đã ra đời, nhưng trình độ phát triển còn rất thấp. Nền văn hóa Long Sơn cho thấy tình hình kinh tế thời nhà Hạ với những công cụ đồ đá màu, đồ gốm và các loại dụng cụ làm bằng xương, sừng, vỏ trai. Đồ đổng cũng có nhưng là đổng đỏ và số lượng ít. Đồ gốm ở đây đã có nhiều màu đen, xám, trắng, vàng, đỏ và chủ yếu là loại đổ gốm đen bóng, từ đó văn hóa Long Sơn còn được gọi là văn hóa đồ gốm đen. Bộ máy nhà nước rất đơn giản, có một số chức vụ 
quản lý một sô’ ngành kinh tê’ như Mục chính (quản lý việc chăn nuôi),
Xa chính (quản lý xe), Bào chính (tiến dâng thức ăn cho vua)…

Thời nhà Thương (khoảng thê’ kỷ XVI – năm 1066 tCn): nước Thương ở vùng hạ lưu Hoàng Hà trên đường phát triển thì cũng là lúc nước Hạ ở trung lưu suy yếu và bị tiêu diệt, nhà Thương được thành lập. Nhà Thương đóng đô ở phía nam Hoàng Hà (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay). Để tránh lũ lụt Hoàng Hà, vua Thương đã dời đô nhiều lần và về sau đã chuyển lên phía bắc Hoàng Hà.

Xã hội đời Thương có bước phát triển lớn so với đời Hạ. Ở Trịnh Châu (Hà Nam) đã phát hiện được nhiều nền nhà, mộ, xưởng luyện đồng, xưởng làm đồ gốm, đồ xương, xưởng cất rượu. Tại Ân Khư kinh đô của triều Thương (phía tây bắc thành phô’ An Dương tỉnh Hà Nam ngày nay) đã phát hiện khu lăng mộ của các vua Thương, của quý tộc và của bình dân vối rất nhiều đồ táng cho thấy trình độ phát triển của nền thủ công nghiệp và sự phân hóa xã hội của Trung Quốc lúc đó. Vào đời Thương đã sử dụng phổ biến đồ đồng thau làm đồ tê’ lễ, đồ uống, vũ khí, cấu kiện xe ngựa, công cụ thủ công nghiệp, được chê’ tác với hình dáng đẹp, trang trí khá tinh vi.

Vào đời Thương việc trao đổi buôn bán cũng khá phát triển, nhiều di chỉ đã phát hiện được vỏ ốc biển dùng làm tiền (gọi là bối). Các di chỉ khảo
cổ và tài liệu chữ giáp cốt cũng cho biết đến đời Thương, đã có sự phân hóa giai cấp. Các loại đồ dùng bằng đồng thau, bằng ngà, bằng ngọc cũng như xe, ngựa là đồ dùng hàng ngày của giai cấp quý tộc khi chết được chôn theo.

Một thành tựu quan trọng khác trong nền văn hóa đời Thương là phương pháp làm lịch. Lịch đời Thương chia một năm làm 12 tháng, tháng đủ có 30 ngày, tháng thiếu có 29 ngày. Để cho khớp với vòng quay của quả đất xung quanh mặt trời, lịch đời Thương đã biết thêm tháng nhuận. 
Lúc đầu, tháng nhuận để ở cuối năm gọi là tháng 13, về sau đã biết để ở giữa năm. Lịch đời Thương dẫu chưa thật chính xác nhưng đã rất tiến bộ, cũng là loại lịch sớm nhất được biết đến ỏ Trung Quốc.