Tây Kinh Kyoto – P1

Kyoto còn gọi là Heian – Kyo có nghĩa là “thủ đô hoà bình” được xây dựng vào năm 794 dưới thời hoàng đế Kammu (736 – 806). Thành phố xây hình vuông theo kiểu kinh đô Trung Quốc đời Đường ở Tràng An. Các đền miếu đều ở ngoài Hoàng thành, xây dựng trên các ngọn đồi xung quanh. Các đại lộ vuông nhau và được đánh số từ 1 đến 10, từ Hoàng cung phía Bắc tới tận cửa Rashomon ở phía Nam. Là kinh đô từ năm 794 đến 1868, Kyoto có nhiều thời kỳ phát triển huy hoàng, các ngành nghệ thuật của Kyoto phát triển mạnh. Ngôi đền Enryakuji (xây dựng năm 788) và đền Kiyomizu (năm 989) là những đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc Nhật Bản. Công trình duy nhất còn bảo tồn nguyên vẹn cho tới nay là Byodo ở Uji nằm trong vùng Kyoto.

Kyoto được xem là một tổng hợp tiêu biểu và phong phú của bản sắc đô thị qua ngàn năm ở Nhật Bản. Do mạng lưới ô vuông nên tìm đường dễ dàng, thành phố không có nhà chọc trời mà tràn ngập những kiến trúc cổ, những chùa và đền miếu. Ở đây có tới 1600 ngôi chùa và 200 miếu Shinto nằm rải rác ở khắp các khu phố nhiều màu sắc khiến cho cảnh quan rất hấp dẫn. Dọc theo dòng sông Kamo là những con lộ nhỏ của phố Pontocho và ở phía thượng nguồn có khu phố cổ Gion.

Kyoto, ngày nay cũng không lớn lắm, dân sô’ khoảng 1,5 triệu người, là một thành phố thanh lịch sạch đẹp, ba mặt có núi non bao bọc, hai mặt có sông (Katsura và Kamo) chảy qua, hợp lưu thành sông Yodo. vẻ đẹp duyên dáng diệu kỳ nhờ sự kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp tự nhiên và nhân tạo. Từ thời còn là thủ đô của Nhật Bản, rất nhiều của cải, vật dụng trí tuệ đã dổ về đây. Đó là các gia đình vương triều, gia đình quan lại và trí thức, văn nghệ sĩ cùng các nhà khoa học và cả những thợ thủ công khéo tay. Họ đã góp công sức của cải, trí tuệ xây dựng Kyoto thành một trong những thành phố trang nhã nhất thê’ giới.

Kyoto có rất nhiều kiến trúc tôn giáo thuộc phái thiền trong đạo Phật. Nghệ thuật hội hoạ với Sesshu, trường phái Kanoo, Kịch Nô, nghệ thuật làm vườn, trà đạo cũng phát triển. Trong những năm nội chiến, Kyoto cũng bị cướp phá, hỗn loạn trong gần một thê’ kỷ, nhưng sau đó đã được Hideyoshi phục hồi nhanh chóng. Ngay cả khi thủ đô đã dời về Edo (Tokyo) năm 1603, người ta vẫn xây lầu Nijo và các biệt thự hoàng gia.

Lầu phượng ở chùa Byodoin

Thời kỳ Hoàng đê’ đóng đô ở Hêian (794-1185), kinh đô được xây dựng theo kiến trúc đời Đường. Do quan hệ với Trung Quốc thời kỳ này bị gián đoạn, nghệ thuật Nhật Bản tuy vẫn mang dấu ấn Trung Quốc nhưng độc dáo hơn, thể hiện ở vẻ đẹp mềm mại tinh vi, không thiên về khoẻ khoắn. Ở các xưởng của Hoàng cung, nhiều hoạ sĩ cộng tác với những nhà thơ và những nhà quý tộc viết chữ đẹp làm ra những bình phong vẽ cảnh thôn dã hay thắng cảnh đất nước. Tranh phong cảnh không vẽ núi non trùng điệp kiểu đời Đường mà có tính chất trang trí nhiều hơn. Công trình nghệ thuật điển hình cho thời kỳ này là lầu phượng (Hoodo, xây dựng năm 1053) soi mình xuống dòng sông. Hoàng đê’ cho xây công trình này ở trong chùa Byỏđôin ở gần Kyoto để gợi lên trên trần thê’ những niềm vui cực lạc. Chùa có tượng Adiđà sơn son thếp vàng, lần đẩu tiên làm bằng kỹ thuật ghép nhiều mảnh gỗ. Trên tường và cửa vẽ Adiđà và các vị bổ tát đi qua cánh đồng để thăm một người hấp hối. Thời kỳ Hêian cũng xuất hiện phong cách hội hoạ dân tộc, gọi là Yamatôê và nghệ thuật vẽ Emaki (tranh cuộn kiểu bức “liễn” tô màu sắc tươi) minh hoạ thơ, chuyện cổ tích, cảnh lịch sử đền chùa.

Chùa nằm cách Kyoto 15 km, ở bờ phía Tây sông Uji, là một trong những công trình thanh lịch và hấp dẫn nhất của kiến trúc Phương Đông. Vốn trước đây là nơi nghỉ ở vùng quê của nhà quý tộc Minamotono-Toru, có chùa Aminado (Adiđà) soi bóng mặt nước chiếc hồ tuyệt đẹp của tu viện. Các phòng bên trong được trang trí cầu kỳ với sơn mài màu, vỏ ngọc trai và các lá đồng mạ vàng. Chùa Byodoin là quần thể các kiến trúc trông ra bờ hồ. Công trình chính có hình hai con phượng hoàng giang cánh trên mái nhà và một bức tượng Phật rất lớn được thực hiện bởi nhà điêu khắc Jocho. Bức tượng cao 3 mét, xung quanh là 52 tượng Bồ Tát bằng gỗ, thể hiện những vị tu hành đã giác ngộ và đạt đến trình đỏ minh tuệ, nhưng không nhập Niết Bàn mà ở lại trần thế, để độ cho những người khác cùng giác ngộ.

Lầu vàng Kinkakuji

Vào năm 1397 vị tướng quân Yoshimitsu đã cho xây một toà biệt thự ở nơi mà trước đây có toà biệt thự do Saionji Kitsune dựng vào thời Kamakura. Khi ông qua đời, tòa biệt thự được chuyển thành Thiền viện gọi là chùa Rokuon tức Kim Các Tự (Kinkakuji) và cũng thường được gọi là chùa có sảnh vàng.

Toà Kim Các được dựng ở ven một cánh hồ lớn, bao quát cảnh đẹp của khu vườn. Toà nhà cao ba tầng mái bốn phía lợp vỏ cây. Dốc mái uốn cong nhẹ nhàng và bay bổng, trên chóp có hình chim phượng xoè cánh, tạo nên dáng hình thanh thơát hướng lẽn trời cao. Cảc cổt đỡ mái hién thanh tú rất fiai hoắ với dáng vế nhẹ nhõm của bộ mải. ổằc ph ía âều cỗ bao lơh tay vịn bao quanh. Tầng một có hiên rộng phía trước, trong hậu.xung, có tượng Di đà Tam tôn, tượng Muso Kohushi, vị tăng thống đầu tiên của tự viện, và một tượng chân dung Shogun Yoshimitsu, người sáng lập biệt thự. về phía tây có bao lơn vươn ra trên mặt hồ. Trang trí tầng một rất đơn giản, các kết cấu bằng gỗ để mộc, bên trong có nhiều họa tiết mầu. Tầng một* đậ. được tạo tác theo phong cách Shinden, có niều cửa mở thoáng. Phong cách nhẹ nhàng và tự nhiên của tầng một đã tạo nên vẻ tương phản với các tầng trên có cấu tạo nhiều nét trang trí và màu sắc rực rỡ. Tầng hai được tạo tác theo phong cách Samurai với một khoảng sảnh lớn thờ Phật, bao quanh là các cửa lùa bằng gỗ và cửa sổ có rèm. Tầng ba được tạo hình ba gian ở mỗi mặt, trong ngoài đều quét sơn và thếp vàng lá, từ đó đã có tên Kim Các (Sảnh vàng hoặc lầu vàng).

Bố cục kiến trúc toà nhà rất trang nhã, duyên dáng, là một bước phát triển mới trong lối kiến trúc cung điện thòi Fujiwara. Đây là một thành công đặc biệt về kiểu kiến trúc phong cảnh, nhà được liên kết với vườn, và khu vườn trở thành một bộ phận hữu cơ của kiến trúc.