Nhìn nhận bản sắc đô thị qua lăng kính không gian, thời gian – P3

* Chúng nói với ta về thương mại và kinh tê’

Tùy theo vị trí mà đô thị có khả năng thương mại trên biển hay trên đất liền. Những đô thị phồn vinh đều triển khai dọc bờ sông, ở ngã tư những tuyến buôn bán trên sa mạc, gần những mỏ vàng, mỏ bạc, hoặc nhờ vị trí địa lý cùng những hoạt động thương mại hoặc sự khai thác hợp lý đối với thiên nhiên. Katmandu trên con đường chở muối, Djenné trên đường buôn vàng, Shibam trên đường hương liệu, Damas trung tâm thương mại; Istanbul ngã tư của phương đông và phương tây. Venise và Libeck vâi những trung tâm độc quyền thương mại, Kotor với cảng tự nhiên; Potosí gần mỏ bạc và Ouro Preto với những mỏ “vàng đen”.

* Chúng nói với ta về đời sống trí tuệ

Salamanque là một kiểu mẫu về thành phố đại học cổ, Tombouctou là trung tâm trí thức quan trọng của châu Phi ở phía nam Sahara, Cracovie vẫn còn là trung tâm văn hóa của Ba Lan đến ngày nay. Cùng trong loại này còn có thể kể những thành phố là trung tâm tốn giáo: Rome, Istanbul, Katmandu, Cairo cũng đều là những trung tâm của đời sống tri thức đã đánh dấu sự tiến hóa và sự tỏa sáng của những nền văn hóa mà trong đó các đô thị này đã xuất hiện. Những đô thị là trung tâm nghệ thuật cũng phản ánh tính năng động tri thức như trường hợp Venise, Florence, Ouro Preto.

* Chúng nói với ta về sự hòa nhập và chung sống giữa những nền văn minh

“Mật độ ngữ nghĩa” của những tổng thể đô thị đó rất đáng được chú ý. Đó là do sự tích tụ của nhiều thế kỷ lịch sử tạo nên: nhà cửa và không gian đô thị là những cung đoạn của cuộc hành trình nhân loại trên trái đất. Mỗi tổng thể đô thị có cách biểu hiện riêng trên khu dân cư: khu cho người nghèo, khu cho người giàu, khu của quân sự với những công sự và tháp canh; Khu của các lãnh chúa với lâu đài cung điện và nhà thờ Hồi giáo; Khu giao dịch với những đường phố chính và phụ, quảng trường và vườn cây. Khu tôn giáo với đền đài và nhà thờ; Khu lao động và thương mại với các hầm mỏ, và hải cảng; Khu giải trí với nhà tắm công cộng, rạp hát và công viên. Ngoài ra nó còn biểu hiện ở sự hòa nhập với thiên nhiên và ở sự khai thác lương thực, thực phẩm hoặc những vật liệu để tạo ra đô thị.

Người ta thấy một sự chung sống giữa nghệ thuật La Mã, Cơ Đốc, trung cổ, Rô man, Gôtic, phục hưng, Baroque và hiện đại ở nhiều thành thị châu Âu. Có thể nêu lên Budapest như một ví dụ điển hình, còn những đô thị Ả rập lại cho thấy nhiều sự chuyển tiếp về phong cách nghệ thuật và cũng cho thấy tác động của nhũng cuộc xâm lược. Ở đây có một sự hỗn hợp mà một phần của quá khứ đã được giữ lại và chung sống với hiện tại. Thành phô’ Cairo (Ai Cập) đã biểu lộ một tính năng động như thế, ở đó có sự dung hòa giữa việc bảo tồn đô thị và sự mở rộng của thành phố hiện đại.

* Đô thị “hữu hạn” và “vô hạn”

Hình ảnh và ý nghĩa của các khu dân cư là một điều không thể chối cãi được. Chữ tượng hình Ai Cập như trên đã nêu là biểu thị không gian được nhân tính hóa, đô thị được coi như một thế giới ổn định và hòa nhập vào vũ trụ.

Người ta thường dùng từ “hàng rào’’ cho hệ thống đô thị trung cổ và từ ngữ “mở cửa” cho hệ thống đô thị hiện đại tiến hóa nhanh. Những đô thị lịch sử chứa đầy ý nghĩa và người ta gắn chúng với thế giới “có hạn” mà ở đó người ta vẫn có thể quản lý và kiểm soát. Những đô thị đó cũng chứa đầy ý nghĩa vì chúng thể hiện trong không gian kiến trúc những mối quan hệ của các xã hội nối tiếp nhau trong sự gắn bó với thiên nhiên, giữa những con người và những gia đình với nhau. Chúng cũng nói lên những khát vọng của con người vể quyển lực, về tín ngương cũng như đời sống chính trị. Chúng là sự cụ thể hóa những thế kỷ lịch sử mà sự lắng đọng đã để lại cho chúng ta những ví dụ đẹp nhất.

Phần lớn những đô thị trong “danh sách di sản thế giới” là những đô thị lịch sử sống động đang tiến hóa theo nhịp độ của thế giới công nghiệp hiện đại. Người ta cũng nhận thấy rằng quy chế di sản thế giới thường cũng dành một phần cho các khu đô thị hiện đại mà cuộc sống hiện đại cũng đang triển khai ở đố. Người ta sống ở đó, làm việc ở đó, đi lại ở đó. Vì thế mà những từ ngữ liên quan tới chúng thường có tính chất thời gian như: “Trung tâm lịch sử…”, “thành phố cổ…”, “Hạt nhân lịch sử…”, “Khu Hổi giáo…” trừ một số trường hợp hiếm hoi như “Venise và vùng ngập nước”, “Khu phố Bath”, “Núi Saint Michel và vịnh” và một số cảnh quan đặc biệt như “Thung lũng Katmandu”. Hơn nữa việc xác định giới hạn của không gian mà UNESCO lựa chọn thường là để chỉ một vùng đô thị bao quanh, kéo dài hoặc nằm kề bẽn không gian đô thị cổ.

Người ta thấy rằng từng thời kỳ hoặc qua nhiều thế kỷ, thì từ những di tích lịch sử đó đã hình thành nên những đô thị hoàn chỉnh. Lúc đầu là cả một đô thị nhưng sau thì trở thành một bộ phận của đô thị, bộ phận của những đô thị hiện đại và công nghiệp hóa, những bộ phận của đô thị dần dần tiến triển và với cách nhìn của quy hoạch đô thị, đã có sự phân biệt giữa lịch sử và sự tiến hóa.

Trong một tác phẩm của Thierry Gaudin một tác giả có quan tâm đến đô thị hiện đại, người ta thấy có những nhận xét sau đây: “Việc hiện đại hóa đô thị, kể từ thời Haussman được thực hiện theo kiểu giải phẫu. Người ta trổ những đại lộ, trưng dụng toàn bộ những khu phố rồi xây dựng lại, lấy đất để làm mạng lưới đường phố, rồi đến hệ thống cống, khí đốt, mạng lưới điện đến nay là điện thoại và dây cáp, rồi mai đây sẽ là thu gom rác bằng người máy. Đúng là việc hiện đại hóa liên quan tới tất cả các đô thị, nhưng con người luôn luôn vẫn còn cần đến những môi trường ở có ý nghĩa. Không quá ngợi ca quá khứ, nhưng cũng không phủ nhận sự phát triển hiện tại, nó là đặc tính đầy cổ vũ của xã hội chúng ta, UNESCO đã giúp ta có một niềm tin mới: bảo tồn di sản thế giới vì lợi ích toàn cầu. Sáng kiến này có hiệu lực làm chúng ta mơ tưởng tới nghìn lẻ một bộ mặt đô thị cổ kính ở khắp nơi mà người ta có thể chiêm ngưỡng.