Một số di tích kiến trúc tiêu biểu – P1

Chùa một cột

Nằm ở vị trí không xa quảng trường Ba Đình, bên phải lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tổng thể chùa là một cụm kiến trúc gồm ngôi chùa và tòa Phật đài trên một hồ nước nhỏ hình vuông. Theo sử sách, chùa được tạo dựng từ thời Lý (năm 1049). Chùa vốn có tên là chùa Diên Hựu và Phật đài có tên là đài Liên Hoa. Do đài có hình tượng nghệ thuật đặc sắc (Phật đài nằm trên một cột đá giữa mặt nước gợi hình ảnh một bông hoa sen) nên nhân dân quen gọi là chùa Một Cột.

Đài được cấu tạo bằng gỗ theo kiểu kiến trúc truyền thống, mặt bằng hình vuông 3x3m, mái lợp ngói vẩy rồng, góc mái uốn cong, toàn bộ được đặt trên một trụ đá (đường kính 1,2m, cao 4,Om chưa kể phần chìm dưới đất). Cột được ghép nối một cách khéo léo bằng hai khối đá lớn, đầu cột đục mộng để gắn kết các giá đỡ (gồm thanh thẳng và thanh cong) giữ cho cấu trúc được ổn định, đồng thời góp phần tạo hình tượng bông sen.

Chùa một cột

Hồ nước xinh xắn có lan can gạch bao quanh, từ mép hồ có bậc gạch dẫn lẽn đài thờ. Trên cửa Phật đài có biển đề “Liên hoa đài” (đài hoa sen) ghi nhớ sự tích vua Lý Thái Tông (1028 – 1054) nằm mộng thấy Phật Quan Âm trên tòa sen… Chùa thường có những buổi lễ cầu phúc cho vua được sống lâu, vì thế chùa có tên Diên Hựu (kéo dài tuổi thọ).
Giá trị nghệ thuật của kiến trúc chùa là đã tạo ra một cấu trúc công trình gợi hình ảnh tuyệt đẹp của bông sen trên mặt nước, một hình ảnh rất đặc trưng của văn hóa Việt Nam.

Chùa Trấn Quốc

Ngôi chùa vào loại cổ nhất ở Việt Nam, tương truyền có từ đời Lý Nam Đế (thế kỷ VI). Bước đẩu chùa được xây dựng ở sát bờ sông Hồng và có tên là chùa Khai Quốc (mở nước), đến đời Lê Thái Tông (1434 – 1442) đổi tên là chùa An Quốc. Đến đời Lê Kính Tông (1600 – 1618) do bãi sông bị lở nên nhân dân đã rời chùa vào hòn đảo ở Hồ Tây (địa điểm hiện nay thuộc phường Yên Phụ, quận Tây Hổ). Vào đời Lê Hy Tông (168 – 1705) chùa mới mang tên Trấn Quốc.

Chùa Trấn Quốc

Sau đó, cùng với việc đắp đê cổ Ngư (đường Thanh Niên ngày nay) đã làm thêm đường nối với đảo. Chùa được tu sửa và bồi đắp qua nhiều thời kỳ. Chùa có cấu trúc khá độc đáo: phía trước là bái đường, tiếp đến hậu cung, phía sau là hai dãy hành lang và gác chuông.

Chùa Một Cột (Chùa Diên Hụy)

Chùa có một số tượng đẹp, đặc biệt là tượng Thích Ca nhập Niết Bàn được làm bằng gỗ có thiếp vàng. Chùa cũng có nhiều bia có giá trị, tấm bia cổ nhất được dựng vào năm 1639 (do Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chinh soạn, ghi lại việc đại tu chùa vào năm đó). Sân chùa có cây bồ đề xum xuê cành lá, tặng phẩm của tổng thống ấn Độ khi ông tới thăm chùa vào năm 1959.

Nhờ gắn bó với cảnh trí thiên nhiên tuyệt đẹp của Hồ Tây với Hồ Trúc Bạch, cảnh quan chùa đã gây ấn tượng mạnh mẽ đối với khách tới thăm.

Chùa Láng

Còn có tên “Chiêu Thiên Tự’, nằm ở làng Láng (còn gọi là làng Yên Lãng thuộc phường Láng Thượng, quận Đống Đa, Hà Nội), được xây dựng từ đời Lý Anh Tông (1138 – 1175). Qua tám thế kỷ, chùa đã có nhiều thay đổi sau các lần trùng tu. Công trình như ta thấy ngày nay được hinhthành từ lần trùng tu ở khoảng giữa thế kỷ XIX (thời vua Tự Đức).
Cái đẹp của kiến trúc chùa Láng là ở bố cục tổng thể rộng rãi, phong quang với sự cân dối nhịp nhàng của những kiến trúc thành phần. Mặt bằng tổng thể rộng rãi với một cổng vào uy nghi gồm 4 cột gạch lớn và các dầm, mái cong mềm mại liên kết các cột với nhau. Qua cổng là một sân lát gạch, giữa sân có sập đá dùng làm nơi đặt kiệu vào các dịp lễ hội. Tiếp đến là cổng

Tam quan mở đầu một đường lát gạch thênh thang hai bên có tường hoa và bên ngoài là hai hàng cây muỗm cổ thụ tỏa bóng mát. Cuối đường gạch mở ra một sân rộng, giữa sân có nhà Bát giác, bao ba mặt sân là tòa Đại bái ở giữa (ngôi nhà chính 9 gian) và các nhà tả hữu vu ở hai bên.
Trong chùa, ngoài các tượng Phật còn có tượng vua Lý Thần Tông ngồi trên ngai vàng và tượng Thiển sư Từ Đạo Hạnh mặc áo cà sa (theo truyền thuyết: Từ Đạo Hạnh đã đầu thai làm con trai của người em vua Lý Nhân Tông, được truyền ngôi vua trở thành Lý Thần Tỏng, ở ngôi vua từ 1128 đến 1138).

Chùa Tây Phương

Chùa còn có tên là Sùng Phúc Tự, được dựng trên một ngọn núi cao khoảng 50m (xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất, Hà Tây cũ phía Tây thủ đô Hà Nội), núi có tên Tây Phương (tên cũ: núi Câu Lậu). Từ chân núi lên tới chùa phải qua 237 bậc lát đá ong.

Chùa Tây Phương

Tổng thể kiến trúc chùa gồm ba nếp nhà xếp song song: bái đường, chính điện và hậu cung. Mỗi nếp nhà đểu có mái kiểu chổng diêm hi tầng tám mái với những đầu đao cong vút được trang trí rất phong phú. Tòa chính điện ở giữa ngắn hơn hai tòa bái đường và hậu cung, đồng thời lòng nhà lại rộng hơn, tạo nên những không gian sinh động.

Bộ mái chiếm một vị trí quan trọng trong cấu trúc ngôi nhà, mái lợp hai lớp ngói: lớp trên có múi in nổi hình lá đề, lớp dưới vuông có nhiều màu sắc xếp thành ô vuông văn trên những hàng rui gỗ. Các tảng đá kê chân cột có trạm khắc hình lá sen.

Tường bao quanh được xây gạch để trần, trổ cửa sổ tròn với trang trí theo biểu tượng “sắc – không”, ánh sáng từ trên qua khoảng không giữa các lớp nhà chiếu vào bên trong đã được sàng lọc trở nên dịu dàng và có phần mờ ảo rất phù hợp với khung cảnh phía trong với những pho tượng La Hán được tạo tác với trình độ nghệ thuật rất cao được coi là những tuyệt tác của nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam.

Cùng với các công trình điêu khắc tượng gỗ, kiểu thức kiến trúc cũng như nghệ thuật trang trí ở chùa Tây Phương đã góp phần tạo nên một di sản văn hóa vô giá của nghệ thuật truyền thống Việt Nam.

Chùa Kim Liên

Chùa nằm trẽn doi đất bên Hồ Tây (làng Nghi Tàm, phường Quảng An, quận Tây Hồ), nơi xưa kia là đất trồng dâu nuôi tằm do công chúa Từ Hoa con vua Lý Thần Tông (1128 – 1138) lập nên.
Chùa xây dựng từ thế kỷ 17, vốn có tên là Đại Bi, đến năm 1771 được xây dựng lại và mang tên chùa Kim Liên (Bông Sen Vàng). Đến năm 1792 lại

Chùa Kim Liên

được tu bổ và hình thành cấu trúc chùa như ta thấy ngày nay: bô’ cục tổng thể kiểu chữ Tam, gồm ba nếp nhà dài song song nhau, đó là chùa Thượng, chùa Trung và chùa Hạ. Mỗi nếp nhà đểu được xây kiểu chồng diêm (hai tầng tám mái) nên hình ảnh bộ mái của chùa rất phong phú và đặc sắc. Ba nếp nhà được liên kết với nhau bởi tường bao xây gạch có trổ cửa sổ lấy ánh sáng (tường vuông, cửa hình tròn, tạo hình theo quan niệm “sắc sắc không không” của nhà Phật).

Trong bộ khung gỗ của chùa Kim Liên người ta đã thấy được những sáng tạo của thời kỳ này với việc tạo ra những biến thể mới của kết cấu vì kèo kiểu chổng rường phối hợp với những thanh đỡ ngang vừa vững chắc, vừa đẹp mắt.

Nét đặc sắc của chùa còn thể hiện ở kiến trúc cổng tam quan bằng gỗ lợp mái ngói được cấu trúc rất đẹp với hàng cột gỗ và các dầm đua đỡ bộ mái, tạo hình ảnh bay bổng của những cánh diều no gió. Đây là một di sản kiến trúc quý giá của thời Tây Sơn.

Đền Ngọc Sơn và Hồ Hoàn Kiếm

Hồ Hoàn Kiếm vốn có tên hồ Lục Thủy (nước màu xanh). Đến đầu thế kỷ XV, do truyền thuyết vua Lê Lợi trả lại gươm quý cho Thần Rùa ở hồ mới mang tên Hoàn Kiếm. Từ thế kỷ 16, các vua Lê và chúa Trịnh đã có nhiều công trình xây dựng quan trọng ở đây như cung Khánh Thụy trên đảo Ngọc làm nơi hóng gió mùa hè. Cung này đã bị đốt cháy vào năm 1786 (đời vua Lê Chiêu Thống), sau đó trên nền cũ được xây ngôi chùa thờ Phật và tiếp theo còn thờ các thánh Trần Hưng Đạo (vị anh hùng dân tộc ba lần thắng giặc ngoại xâm), thánh Văn Xương (thần coi sóc việc văn chương khoa cử), ngoài ra cũng có tượng vị danh tướng Quan Vũ và tượng danh y Lã Tổ. Từ đó, nhân dân quen gọi là đền Ngọc Sơn.

Năm 1865, nhà văn hóa lớn nhất Hà Nội là Nguyễn Siêu đã chăm lo tu sửa toàn bộ kiến trúc khu vực này: xây tháp đá trên hòn núi nhỏ (Tháp Bút), trên tháp có khắc ba chữ Hán “Tả Thanh Thiên” (Viết lên trời xanh), xây đài Nghiên (nghiên mực bằng đá tạo hình nửa quả đào) đặt trên cổng gạch dẫn vào đền. Từ cổng này có cầu gỗ cong tạo dáng đẹp, cầu Thê Húc (Nơi đậu ánh mặt trời giữa ban mai) dẫn tới cổng bên trong có tên Đắc Nguyệt Lâu (Lầu được trăng).

Tổng thể đền gồm ba nếp nhà: nếp ngoài là bái đường, nếp giữa là nơi thờ Văn Xương, nếp cuối thờ Trần Hưng Đạo. Trước mặt bái đường có Trấn Ba Đình (Đình chắn sóng) là nơi các nhà văn tụ họp để bàn luận văn chương.