Khai Phong

Khai Phong cũng là một trong sáu cố đô của Trung Quốc, nằm trong số các thành phố Văn hóa lịch sử trọng điểm được Trung Quốc xếp hạng. Khai Phong thuộc phía đông tỉnh Hà Nam ở bờ nam hạ lưu sông Hoàng Hà. Khai Phong thời xưa có tên là Đại Lương, Biện Lương, được xây dựng từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc (770 – 221 tCn) từng là kinh đô của triều đại phong kiến, đầu tiên là Ngụy (thời Chiến Quốc) rồi đến Hậu Lương, Hậu Tần, Hậu Hán, Hậu Chu (thời Ngũ đại), sau cùng là Tống và Kim.

Khai Phong 1
Cổng thành Khai Phong

Khai Phong 1

Tên gọi Khai Phong có nguồn gốc từ thời Xuân Thu. Lúc đó, đất này thuộc nước Trịnh. Trịnh Trang Công muốn độc chiếm Trung Nguyên đã cho xây thành, đắp lũy, biến nơi đây thành chỗ cất giữ lương thực, ông đặt tên nơi này là Khởi Phong với ý nghĩa khởi nghiệp, mở rộng bờ cõi Phong Quốc (đất được phân phong). Đến thời Tây Hán, để tránh phạm húy cảnh Đế Lưu Khởi nên Khởi Phong phải đổi tên thành Khai Phong.

Khai Phong thịnh vượng nhất vào thời Bắc Tống với 9 đời vua trải qua 167 năm lịch sử. Khi ấy, Khai Phong được gọi là phủ Khai Phong có vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và quân sự của cả nước, dân số tới triệu người, là một trong những đô thị phồn hoa nhất thế giới lúc bấy giờ.

Khai Phong vốn có môi trường tự nhiên rất đặc biệt với hệ thống sông hồ dày đặc. Thời Tống, Khai Phong có 4 sông chảy qua nội thành: Biện Hà, Thái Hà, Ngũ Trượng và Kim Thủy thuyền bè qua lại tấp nập. Sông nước và cảnh phồn hoa thời Tống đã trở thành đề tài sáng tác cho nhiều thi nhân và họa sĩ. “Thanh minh thượng hà đồ” của Trương Trạch Đoạn là một kiệt tác trong kho tàng hội họa Trung Quốc, bức tranh như một cuốn phim thời sự ghi lại rất sinh động tình hình sinh hoạt của nhân dân và bộ mặt của Khai Phong thời Tống (cách đây gần 10 thế kỷ). Bức tranh dài 5,3m, rộng 0,25m, toàn cảnh của bức tranh có 813 người, 94 con vật, 100 ngôi nhà và cầu quán với 179 cây cối và 20 chiếc thuyền.

Từ sau triều đại Kim, Nguyên, do môi trường sinh thái thay đổi, nước sông Hoàng Hà nhiều lần dâng cao làm cho Khai Phong bị ngập lụt. Người ta phải đắp đê cao lên, nhiều nơi đê cao hơn mặt đất tới 40m. Các con sông và đầm hồ trong thành cũng luôn bị ngập úng, cây cối vườn tược bị phá hoại, khiến cho vào thời Thanh, ở Khai Phong xuất hiện tình cảnh “trong nước có thành, trong thành có nước”. Tổng thể di sản kiến trúc Khai Phong gồm có: thành Đại Lương thời Chiến Quốc, thành quách kinh đô thời Tống và Chu Vương Phủ thời Minh, cùng với rất nhiều di tích lịch sử như: tháp sắt, chùa Tướng Quốc, Long Đình, đài Vũ Vương, miếu Nhạc Phi, đền Bao Công…

Tháp sắt được xây dựng từ thời Tống năm 959 lúc đầu tháp bằng gỗ hình bát giác có 13 tầng, vốn là tháp của chùa Hựu Quốc. Tháp trang trí bằng vàng và đá quý rất lộng lẫy. Đây là tháp Phật sáng giá nhất từ khi Phật giáo truyền bá vào Trung Quốc. Năm 1044, tháp bị sét đánh hỏng, năm 1049 thời vua Hoàng Hựu thuộc nhà Tống đã trùng tu bằng cốt sắt và mái lợp ngói lưu ly. Tháp có 13 tầng cao 54,66m, tầng dưới cùng có cửa lớn mở về hướng nam, trên khung cửa đề chữ “Thiên hạ đệ nhất tháp”. Tám mặt tháp ốp gạch màu nâu sẫm, nhiều hoa văn trang trí hình Phật, tiên đồng, ngọc nữ, kỳ lân, sư tử, rồng… Giữa các tầng có mái nhỏ, góc mái treo chuông.

Chùa Tướng Quốc cũng là một di tích lịch sử nghệ thuật – tôn giáo nổi tiếng. Thời Chiến Quốc, nơi đây vốn là phủ đệ của Tín Lăng Quân – Công tử nước Ngụy. Thời Bắc Tề, niên hiệu Thiên Bảo năm thứ sáu (năm 555) chùa được xây dựng trên nền phủ đệ cũ của Tín Lăng Quân mang tên Kiến Quốc tự. Vào thời Đường, Đường Duệ Tông tôn tạo mở rộng chùa để kỷ niệm ngày lên ngôi, đổi tên chùa thành Tướng Quốc tự, tự tay viết chữ lên biển đề tên chùa. Chùa Tướng Quốc thời Bắc Tống không chỉ là một trung tâm tôn giáo mà còn là trung tâm giao dịch buôn bán và vui chơi giải trí. Theo sách Đông Kinh hoa mộng lục, thời đó mỗi tháng, chùa mở cửa năm lần, đón hàng vạn lượt người đến đây lễ bái, mua bán, vui chơi. Cuối thời Minh, Hoàng Hà tràn bờ gây lụt lớn, chùa bị hư hại nặng. Vào đời Thanh (năm 1766) chùa được trùng tu, quả chuông lớn đúc từ đời Thanh cao 5m. Đại hùng bảo điện, Tàng kinh các, đều có hai lớp mái, lợp ngói lưu ly mầu vàng xanh. Xung quanh thềm điện có lan can bằng đá trắng. Trong lưu ly bát giác điện có pho tượng Quan Âm ngàn mắt ngàn tay, bốn mặt, cao 7m, toàn thân dát vàng.

Long Đình là di tích được coi là biểu tượng của Khai Phong, đó là tòa điện lớn nằm trong công viên Long Đình ở phía tây bắc nội thành. Nền của tòa điện cao 13m, thân điện cao 26,7m, mái hiên vươn rộng với hàng cột vây quanh, rất nguy nga tráng lệ. Trong điện có 9 nhóm tượng gồm 63 nhân vật, hình dáng sống động như thật, được coi là tuyệt tác của nghệ thuật điêu khắc. Ở Khai Phong còn có đền thờ Bao Công, một nhân vật lịch sử nổi tiếng công minh chính trực, tượng trưng cho tinh thần pháp lý, từng làm quan coi việc kinh pháp nhiều năm ở đô thành này. Đến thăm Khai Phong vào những ngày lễ tết, du khách được chiêm ngưỡng nhiều tập tục cổ truyền, tham dự nhiều trò vui chơi giải trí truyền thống như chọi gà, để thăm chợ đêm (từ canh ba cho tới sáng), mua sắm các thứ hàng hóa và nếm các món ăn đặc sản của địa phương.

Thành phố Khai Phong ngày nay diện tích được mở rộng tới 6,5 nghìn km2 vối 4,5 triệu dân có 24 dân tộc: Hán, Hồi, Mãn, Mông, Triều Tiên… Khai Phong đang dần trở thành thành phố công nghiệp hiện đại vỏi các ngành công nghiệp như: điện lực, chế tạo máy, dệt, hóa học, điện tử… Nông nghiệp của thành phố cũng phát triển mạnh, ngoài sản xuất lương thực còn cung cấp rau và thực phẩm cho toàn thành. Trong thành phố, các khu nhà ở được xây dựng khang trang, đường phố rộng rãi, hai bên đường là cây cối xanh tươi. Cây xanh và hệ thống hạ tầng đô thị tốt đã làm cho cố đô Khai Phong có môi trường sống xanh, sạch, đẹp.