Di sản văn hóa kiến trúc và bản sắc đô thị Việt Nam – P3

Trên địa bàn cổ Loa, ngành khảo cổ học đã phát hiện được nhiều di chỉ đồ đá, đồ đồng như những lưỡi rìu, lưỡi cày, đặc biệt có cả một kho vũ khí với hàng vạn mũi tên đồng, một số trống đồng thuộc lại tinh xảo (trống đồng thời Đông Sơn). Những di chỉ này chứng tỏ nơi đây từ rất sớm đã từng là nơi tụ cư của người Việt cổ. Thành cổ Loa là một công trình thành lũy rất đặc sắc vừa là đô thành vừa là quân thành, một nơi tập trung quân tướng thủy bộ rất lợi hại mà sau này vào năm 938 khi Ngô Quyền chiến thắng quân xâm lược, chấm dứt mười thế kỷ Bắc thuộc lập ra Vương triều Ngô cũng đã dùng nơi này làm kinh đô.

Cuối năm 1009, tại Hoa Lư (Ninh Bình), Lý Công uẩn lên ngôi vua, sáng lập ra triều Lý (1009-1225), mở ra trang sử mới của một quốc gia phong kiến độc lập.
Hoa Lư là kinh đô của nước Đại Việt dưới hai triều Đinh (968-980) và Tiền Lê (980-1009) là một vùng núi non hiểm trở, thích hợp với yêu cẩu quân sự của một chính quyền độc lập non trẻ còn phải’đốí phó với nhiều mối đe dọa của thù trong giặc ngoài. Với địa thê’ lợi hại của Hoa Lư, triều đình đã đánh bại các thế lực cát cứ địa phương, khôi phục và củng cố nền thống nhất quốc gia, triều Tiền Lê đã đánh tan quân xâm lược nhà Tống bảo vệ vững chắc nền độc lập của dân tộc. Những thành quả bảo vệ và củng cố độc lập dân tộc gắn liền với thống nhất quốc gia thời Ngô, Đinh, Tiền Lê đã tạo điều kiện đưa đất nước vào thời kỳ mới: thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn, thời kỳ phục hưng toàn diện của dân tộc và nền văn hóa dân tộc. Hoa Lư vối vị trí và địa thế núi non hiểm trở đã không đáp ứng được vai trò kinh đô ở thời kỳ phát triển mới.

Lý Công uẩn tức Lý Thái Tổ, vị vua sáng nghiệp của triều Lý, đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của kinh thành đối với vận mệnh của đất nước và vương triều nên đã quyết định dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Trước ngày xây dựng kinh thành Thăng Long, miền đất này đã là nơi dân cư đông đúc, buôn bán thịnh vượng. Nhờ những điều kiện phát triển kinh tê’ xã hội sẵn có ở đây nên khi Lý Thái Tổ thiên đô tới, chỉ phải lo xây dựng Hoàng thành, còn những khu vực nhân dân ỏ không phải xây dựng gì mới.

Sau khi dời đô về Thăng Long, còng việc đầu tiên của triều Lý là kiến thiết cung điện làm nơi ở, nơi làm việc của triều đình quý tộc, xây dựng thành lũy bảo vệ. Mùa thu năm 1010, một cụm kiến trúc trung tâm gồm các cung điện đã được dựng lên: Điện Càn Nguyên (chỗ coi chầu), Điện Tập Hiền, Điện Giảng Võ, Điện Cao Minh, Điện Long An, Long Thụy (nơi vua nghỉ), Điện Nhật Quang và Điện Nguyệt Minh, phía sau là 2 cung Thúy Hoa, Long Thụy làm chỗ ở cho cung nữ.

Khi mới xây dựng, kinh thành Thăng Long chia làm 2 phần: Hoàng thành và Kinh thành. Hoàng thành nằm trong lòng Kinh thành là khu vực nhà vua ở và triều đình làm việc. Kinh thành là khu vực nhân dân và quan lại ở, bao bọc lấy Hoàng thành. Trong thành còn ngăn ra một khu vực nữa, gọi là Cấm thành, có tường xây kiên cố, có quân lính canh gác nghiêm ngặt. Đó là nơi vua và các hoàng hậu cung tần mỹ nữ ở.

Di sản văn hóa kiến trúc và bản sắc đô thị Việt Nam - P3 1

Kinh thành Thăng Long giữ vai trò đầu não của nhà nước trung ương tập quyền tức là trung tâm chính trị của cả nước. Phía ngoài là khu thị dân bao gồm những xóm làng nông nghiệp, những phô’ phường công thương và một hệ thống bến, chợ. Một vòng thành ngoài cùng bao bọc toàn bộ khu vực thành và thị, thành này đắp bằng đất với chức năng vừa phòng vệ, vừa là đê ngăn lũ lụt mà nhà Lý đã nhiều lần sửa chữa, tu bổ. Mặt đông, thành chạy dọc theo hữu ngạn sông Hồng, mặt bắc, dựa theo sống Tô Lịch (phía nam Hồ Tây), mặt tây, theo tả ngạn sông Tô Lịch (từ Yên Thái đến ồ cẩu Giấy) và mặt nam, theo sông Kim Ngưu qua Giảng Võ, ô Chợ Dừa, ô cầu Dền nối với đê sông Hồng. Như vậy, trên đại thể, thành này được giới hạn bằng ba con sông: sông Hồng, sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Trong quy hoạch tự nhiên đó, thành cũng là đê và sông cũng là hào.

Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư đến Thăng Long, tức miền Hà Nội ngày nay, mà không tới một địa phương nào khác là một việc làm có tầm nhìn xa trông rộng theo yêu cầu phát triển của xã hội đương thời. Bài Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ đã cho thấy rõ sự cân nhắc tính toán ấy. Miền Hà Nội là trung tâm của đất nước Việt Nam thời kỳ này, việc giao thông liên lạc giữa miền Hà Nội với các địa phương khác trong nước bằng đường thủy cũng như đường bộ đều thuận tiện dễ dàng. So với Hoa Lư, Thăng Long còn là nơi trung độ giữa biên giới phía bắc và phía nam, thuận tiện cho sự liên hệ với các nước láng giềng hai miền biên giới. Những điều kiện kinh tế, xã hội của miền Hà Nội thời ấy đã được Lý Thái Tổ nhận thấy và nói rõ trong bài chiếu dời đô: “Muôn vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi. Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước”. Trên phạm vi rộng, cảnh quan thiên nhiên của đất Thăng Long lại có sông Nhị, núi Tản tạo nên thế “nhìn sông dựa núi” phù hợp với những quan niệm cổ truyền trong việc tạo dựng cảnh quan đô thị.

Kinh thành là khu vực bao bọc ngoài Hoàng thành có quan lại, quân sĩ và nhân dân ở. Kinh thành Thăng Long thời Lý – Trần chia ra 61 phường, là nơi nhân dân ở, sản xuất và buôn bán, phố xá cũng dần dần được lập nên ngày càng nhiều. Khu dân cư tập trung này do điều kiện sinh sống đã dần dần hình thành một quy hoạch hợp lý và có phần độc đáo. Thăng Long cũng như các thành thị phương Đông nói chung, tuy có phân biệt với nông thôn, nhưng không tách rời và đối lập với nông thôn.

Các nghề thủ công nằm rải rác ở nhiều phố phường, nhưng tập trung nhất vẫn !à khu đông và khu tây của thành Thăng Long. Đó là các nghề dệt, nhuộm, gốm, sứ, giấy, nghề làm đổ trang sức, mỹ nghệ, nghề đúc đồng, rèn sắt, nghề nề mộc… Khảo cổ học đã tìm thấy nhiều đổ tráng men, nhiều đồ đất nung hình rồng, phượng, cầm thú… những cột đá chạm rồng mang phong cách nghệ thuật Lý, nhiều gạch ngói trong đó có ngói bản, ngói ống, ngói tráng men và những viên gạch in niên hiệu đời Lý như Long Thụy Thái Bình (1059-1065)… Những di vật ấy cho thấy trình độ kỹ thuật và nghệ thuật cao của nghề gốm sứ đời Lý.

Các hoạt động xây dựng ở Thăng Long dưới triều các vua Lý – Trần được thực hiện trong khuôn viên của Hoàng Thành là chủ yếu và một phấn ở Kinh thành bao gồm các chùa tháp, đền đài, dinh thự.

Sau khi chiến thắng quân Minh, Lê Lợi và các triều vua sau ông đều đóng đô ở Thăng Long. Năm 1428, sau khi lên ngôi vua, Lê Lợi đặt lại tên mảnh đất Kinh đô là Đông Đô, đến cuối năm 1430 thì gọi là Đông Kinh. Tuy nhiên, tên Thăng Long vẫn thông dụng cho đến đầu thế kỷ XIX trước khi chuyển thành Hà Nội.

Kinh thành Thăng Long ở đầu thời Lê bao gồm đất đai phủ Phụng Tiên và vẫn là kinh thành Thăng Long thời Lý – Trần, trừ những cung điện đền đài ở trong Hoàng Thành do bị phá hủy thì nhà Lê đã dần dần sửa chữa và có thêm nhiều công trình mới. Vào khoảng cuối thế kỷ XV, đời Lê Thánh Tông, tường Hoàng thành do xây đã lâu ngày nhiều chỗ bị đổ nên vào năm 1473 đã phải sửa đắp lại. Đầu năm 1477, vua Lê Thánh Tông cũng cho sửa đắp lại thành Đông Kinh vẫn dựa trên cơ sở thành Thăng Long thời Lý – Trần.

Xem thêm: Bán nhà Hà Nội dưới 2 tỷ