Di sản văn hóa kiến trúc và bản sắc đô thị Việt Nam – P1

Di sản văn hóa kiến trúc và bản sắc đô thị Việt Nam qua lăng kính thời gian, không gian

Trên dải đất ven biển của vùng Đông Nam Á lục địa với hơn 3000 km bờ biển, đất nước Việt Nam trải dài từ Bắc xuống Nam với nhiều đặc điểm địa hình khác nhau và cũng có nhiều đặc trưng khí hậu khác nhau. Trên dải đất này, nhiều dân tộc đã chung lưng đấu cật xây dựng đất nước và làm nên một nền văn hóa đa dạng mà nhiều thành tựu còn được lưu giữ đến ngày nay. Trong những di sản của nền văn hóa phong phú ấy, có di sản văn hóa kiến trúc nằm rải rác trên các vùng đất khác nhau và có sự tập trung khá đậm đặc ở miền đất Thăng Long – Hà Nội.

Địa bàn hoạt động chủ yếu của người Việt xưa có sự di chuyển dần từ vùng núi và trung du phía Bắc xuống vùng đồng bằng châu thổ ở Bắc bộ và Bắc Trung bộ, thuộc lưu vực sông Hồng, sông Thái Bình, sông Chu, sông Mã… Điều kiện thiên nhiên nhiệt đới nóng và ẩm thúc đẩy con người tìm đến các giải pháp tạo dựng môi trường sống thích ứng, đó là việc khai thác các nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên để làm nhà, làm cửa theo cách riêng của mình. Sản phẩm chính của quá trình tạo dựng mõi trường sống đó chính là những ngôi nhà sàn hoặc nhà đất, ngày nay ta còn thấy ở khắp nơi, tùy theo đặc điểm địa hình của nơi cư trú. Từ các loại cây rừng thân gỗ cho tới các loại tre nứa, người dân ở vùng cao hay vùng xuôi đều có cách riêng để tạo tác nên ngôi nhà đủ sức chống chọi với mưa nắng, gió bão, tạo nơi ăn ở thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông.

Dù được làm bằng tre nứa hay bằng gỗ, ngôi nhà của người Việt đều được tạo dựng từ bộ khung nhà với nhiều gian. Tùy theo quy mô và nhu cầu sử dụng, ngôi nhà có thể có 3 gian, 5 gian, 7 gian. Mỗi gian là một khoảng không gian thành phần tạo nên khả năng định hình hóa của ngôi nhà. Kích thước của gian nhà tùy thuộc vào độ lớn của hệ vì kèo với số cột nhiều hay ít (tạo nên độ sâu của gian) và hệ thanh giằng liên kết giữa các vì với nhau (tạo nên độ rộng của gian). Từ cấu trúc đơn giản này, người thợ xây có thể tạo nên bộ khung nhẹ nhàng của ngôi nhà ở dân gian hoặc bộ khung hoành tráng được chạm khắc tinh vi của các lâu đài, cung điện, các đền miếu…

Bộ khung của ngôi nhà gỗ được sáng tạo, kế thừa và phát triển qua nhiều thế hệ đã trở thành một niềm tự hào của nghệ thuật kiến trúc Việt Nam mà trong đó mỗi bộ phận, mỗi chi tiết đều là nơi gửi gắm niềm say mê của những bàn tay sáng tạo. Từ những tấm đá tảng được chạm khắc công phu kê dưới chân cột, vừa có tác dụng phân bổ đều trọng lượng của ngôi nhà trên nền đất, hạn chế tác động của nền đất dễ ẩm thấp sinh mối mọt, lại vừa là một chi tiết trang trí đẹp mắt cho chân cột. Cũng như vậy, các bộ phận như vì kèo, quá giang, bẩy, các con trống, các đấu được liên kết khéo léo bằng các mộng vừa có tác dụng tạo sự vững chắc cho ngôi nhà vừa là những bộ phận được chạm khắc trang trí khéo léo với nhiều kiểu thức khác nhau, thực sự được coi là những tác phẩm điêu khắc có giá trị.

Cùng với vật liệu gỗ để tạo dựng nên bộ khung cơ bản của ngôi nhà, các loại vật liệu khác cũng được chế tác khéo léo để kết hợp làm nên tác phẩm kiến trúc, đó là các loại gạch và ngói bằng đất nung cũng như một số loại đá (đá vôi, đá granit, đá ong…) tùy theo khả năng ở từng địa phương. Gạch dùng để xây tường, xây bệ tạo sự vững chãi cho ngôi nhà, mặt tường để trần (không trát phủ) tạo cảm giác ấm cúng nhờ màu sắc hồng thắm hoặc nâu gụ, giữa các hàng gạch có mạch vữa được miết chặt tạo thành những đường kẻ giàu tính trang trí. Ngói phủ mái nhà được sắp xếp khéo léo vừa chống nắng, che mưa và được tạo hình “vảy rồng” rất hấp dẫn cho bộ mái, mũi ngói cong hình “mũi hài” là một chi tiết ấn tượng. Ngói phủ mái có hai lớp “Âm, Dương”, lớp dưới (Âm) là ngói lót được trang trí hoặc tô màu để tạo vẻ đẹp bên trong và lớp trên (Dương) là ngói được nung già để chịu mưa nắng. Hai lớp ngói tạo nên độ dày của mái giữ cho môi trường bên trong được bảo vệ tốt chống nắng nóng và gió lạnh.

Nghệ thuật kiến trúc Việt Nam không thiên về sự uy nghi đồ sộ mà chú trọng sự thuận tiện, giản dị và tinh tế. Ngay cả các lâu đài, cung điện hay dinh thự của vua chúa thường cũng chỉ có quy mô khiêm tốn, điều này có nguyên nhân từ điều kiện thiên nhiên và xã hội có nhiều mặt khó khăn gay gắt đòi hỏi con người phải bỏ nhiều công sức trong lao động sản xuất cũng như trong chiến đấu giữ làng, giữ nước mà không thể có lối sống xa hoa lãng phí. Mặc dù đã bị thiên nhiên cũng như chiến tranh phá hủy đi nhiều nhưng đến nay trong kho tàng di sản văn hóa kiến trúc ta vẫn còn thấy được nhiều tác phẩm giá trị ở rất nhiều thể loại. Chỉ riêng trên địa bàn đồng bằng châu thổ sông Hổng với địa điểm trung tâm là vùng Thăng Long – Hà Nội, kho di sản này thường được liệt kê với con số rất lớn và cũng là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc.
Có sông Hổng chảy qua như một trục giao thông nối với nhiều miền đất từ vùng đồi núi cao tới vùng xuôi và ra tới biển, miền đất Thăng Long có nhiều tiềm năng để trở thành địa bàn trung tâm làm kinh đô của đất nước.

Nơi đây từng là nơi giao lưu trên bến dưới thuyền, hàng hóa buôn bán qua lại tấp nập. Sông cũng là một tuyến phòng thủ tự nhiên giúp cho việc bảo vệ chống lại các cuộc xâm lăng từ phương Bắc. Cùng với sõng Hổng, còn có sông Tô Lịch quanh co, uốn khúc bao quanh khu kinh thành, vừa là hào bảo vệ, vừa là tuyến giao thông đường thủy, tạo mối liên kết với các vùng đất lân cận.

Di sản văn hóa kiến trúc và bản sắc đô thị Việt Nam - P1 1

Hoàng thành Thăng Long

Từ xa xưa Thăng Long – Hà Nội vốn là vùng đất trũng, nhiều đầm lầy sau mới dấn dần được bồi lấp và trở thành vùng đất giàu thịnh tốt tươi để cho dân cư từ nhiều nơi tụ tập về và sinh sống. Đến nay vùng đất này vẫn là nơi có nhiều sông hồ và đô thị nơi đây đã được mệnh danh là “đô thị của những gương nước”. Những cảnh quan đẹp đều có mối liên quan với những hổ nước nổi tiếng như Hồ Gươm, Hồ Tây, Hồ Trúc Bạch, Hồ Bảy Mẩu… Gắn kết với các cảnh quan này là vô vàn di sản kiến trúc, từ nhà ở dân gian đến đền đài, cung điện, đặc biệt là các kiểu kiến trúc có mối quan hệ với tín ngưỡng dân gian như các đền, chùa, cầu, quán, các tượng tròn, tượng nổi, nói lên tài năng sáng tạo qua nhiều thế hệ của cha ông ta.

Trên miền đất Thăng Long – Hà Nội hiện nay còn lưu lại dấu tích của hai tòa thành cổ là cổ Loa (từthế kỷ III tr.CN) và Thăng Long (thế kỷ XI sau CN). Thành cổ Loa là Thủ đô của nước Âu Lạc do Thục Phán tạo dựng nay di tích còn lại là các vòng thành được đắp bằng đất (ba vòng thành bao bọc nhau có độ dài tổng cộng khoảng 16km). Dấu tích kiến trúc quan trọng còn lại đến nay nằm ở khu vực Thành trong, có đền thờ An Dương Vương (đền Thượng, tương truyền được dựng trên nền của nội cung ngày xưa), đình làng cổ Loa (có thể là trên nền cũ của điện Ngự triều), cạnh đình có am Bà Chúa (miếu thờ cõng chúa Mỵ Châu) và ở phía trước đền thờ An Dương Vương còn có giếng Ngọc (nơi tự vẫn của Trọng Thủy)…
Thành Thăng Long do vua đầu Triều Lý tạo dựng khi chuyển kinh đô từ Hoa Lư về đây, đánh dấu một giai đoạn phát triển rực rỡ của Nhà nước phong kiến độc lập. Nhiều công trình kiến trúc quan trọng được xây dựng ở khu Hoàng Thành qua các triều đại Lý, Trần, Lê đã được sử sách ghi lại. Trải qua nhiều biến động lịch sử, các lâu đài cung điện này đều đã bị phá hủy chỉ còn lưu lại ít nhiều di tích (như nền điện Kính Thiên với các tượng rồng đá rất đẹp ở bệ thềm).

Sang đầu thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn, thành Thăng Long được xây dựng lại và trở thành tỉnh thành Hà Nội, nhà Nguyễn xây dựng kinh đô ở Phú Xuân (Huế). Nhiều công trình quan trọng ở Hoàng Thành Thăng Long bị rỡ ra, nhiều vật dụng của triều đình được đưa vào Huế.

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng