Đất nước hoa anh đào, bản sắc văn hoá và bản sắc đô thị – P1

Nằm ở vị trí cực đông của lục địa châu Á, người dân Nhật Bản tự hào được thấy mặt trời mọc sớm nhất, một thái tử được triều đình cử đi sứ Trung Quốc đã tự xưng là người của đất nước mặt trời mọc. Xứ sở gồm bốn nghìn hòn đảo chạy dài hình cánh cung kéo dài gần bốn nghìn km, được nâng lên từ đáy đại dương do những vụ nổ núi lửa từ cách nay nhiều triệu năm, trong đó có bốn đảo lớn nhất là Hokkaido, Honshu, Kyushu và Shikoku. Cách biệt với đất liền là điều khó khăn để giao lưu nhưng có thuận lợi về giữ gìn độc lập, bảo lưu tính thuần nhất và thống nhất của nền Văn hóa dân tộc.

Đất nước và núi lửa, sóng thần và bão lụt là những mặt dữ dội của thiên nhiên để con người ở đây phải vật lộn trong sản xuất và đời sống, biết hoà hợp với thiên nhiên và tạo nên tính khí riêng của người Nhật Bản. Họ lấy ngọn núi Phú Sĩ (vốn là núi lửa) tượng trưng cho đất nước mình: hùng vĩ và ngoạn mục những cũng thật dữ dội và đầy biến động. Mặt khác đây cũng là xứ sở hao anh đào nở rộ theo mùa, hoa nở sớm vùng phía nam ấm áp, muộn hơn ở phía bắc rét mướt. Ngắm cảnh đẹp hoa anh đào là hạnh phúc vì đây cũng là hình ảnh ấm no, thanh bình và thịnh vượng. Ngắm hoa anh đào là một nét đẹp văn hoá và đã trở thành một phong tục dân gian gắn với nhiều lễ hội về mùa xuân ở Nhật Bản.

Đất nước hoa anh đào, bản sắc văn hoá và bản sắc đô thị - P1 1

Trà thất được tạo từ vật liệu giản đơn, phong cách tao nhã

Đất nước hoa anh đào, bản sắc văn hoá và bản sắc đô thị - P1 1

Sự liên kết nội thất với vườn cảnh là một đặc trung của kiến trúc Nhật Bản

Truyền thuyết kể rằng quốc gia Nhật Bản hình thành từ năm 660 trước Công nguyên khi thiên hoàng Jimmu (Thần Vũ), dòng dõi của những thần mặt trời Amatêraxư lên ngôi. Jimmu là người đầu tiên tạo dựng nước Nhật Bản và là vị thiên hoàng thứ nhất của xứ sở này. Dòng dõi hoàng tộc truyền nối nhau đến nay Nhật hoàng Akihitô là vị vua thứ 126 của Nhật Bản.

Nhà nước Nhật Bản ra đời tương đối muộn tuy từ nhiều nghìn năm trước đó, trên đất nước Nhật đã có người sinh sống. Nhiều dấu vết thời kỳ đồ đá đã được các nhà khảo cổ học phát hiện vào khoảng từ 30 nghìn năm đến 10 nghìn năm trước đây. Dấu vết của các nền văn hoá đồ đá giữa và đồ đá mới từ khoảng 8000 đến 7500 năm trước Công Nguyên (tương đương thời gian văn hóa Hoà Bình – Bắc Sơn ở Việt Nam) đã được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất nước Nhật Bản. Đây là thời đại Jômôn, cư dân sống bằng chài lưới, săn bắn, hái lượm. Họ sống trong những túp lều có nền thấp hơn mặt đất, có cọc cắm chung quanh và che cỏ bên ngoài. Có tên gọi Jômôn (xoắn thừng) vì ở hầu khắp các di chỉ đều tìm thấy đồ gốm làm bằng đất nung không men, hình dáng thô sơ, được trang trí bằng những mô tip hoa văn kiểu dây thừng xoắn.

Khoảng thế kỉ thứ ba trước Công nguyên, ở lãnh thổ miền nam Nhật Bản đã xuất hiện một nền văn hoá cao hơn: đó là nền văn hoá Yayoi (tên địa điểm khai quật), tồn tại đến tận thế kỉ thứ III sau Công nguyên. Đây là thời kỳ mà nghề trồng lúa đã khá phổ biến và người Yayoi có trình độ trồng lúa khá cao. Cư dân nông nghiệp sống trong các làng mạc, chung quanh có hào bảo vệ. Ngoài nhà ở trong hang đào vào lòng đất cũng đã bắt đầu có nhà sàn lợp rạ. Gỗ được sử dụng rộng rãi trong đời sống, làm công cụ lao động, sinh hoạt. Ngoài ra cũng có công cụ bằng đá mài, công cụ bằng sắt và bằng đồng. Nền văn hóa này nổi tiếng với những đồ gốm màu nâu tươi, làm trên bàn xoay, hình dáng cân đối,tinh tế và giản dị. Thời kỳ nền văn hoá Yayoi cũng là lúc có nhiều cuộc di cư của những người lục địa châu Á và từ bán đảo Triều Tiên, mang theo công cụ lao động và kĩ thuật trổng lúa nước vào Nhật Bản. Ảnh hưởng của văn hoá Yayoi cũng lan đến lục địa châu Á và người ta tìm được nhiều dụng cụ mài, các lọ bằng đất nung của Nhật ở bán đảo Triều Tiên và Đông Bắc Trung Quốc.
Cuộc sống gắn với nghề trồng lúa đã tạo ra các lễ hội nống nghiệp, cầu mong cho được mùa màng, cấu trúc xã hội Nhật Bản từ đó được hình thành trên nền tảng nông nghiệp và còn ảnh hưởng đến ngày nay. Từ những thế kỉ đầu Công nguyên, ở Nhật Bản đã diễn ra quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, đã có sự phân hoá tài sản và xuất hiện giai cấp.
Đến đầu thế kỉ III sau Công nguyên xuất hiện những nước tương đối lớn, trong đó mạnh nhất là nước Yamatai.

Sau đó Yamatai đã bị nước hùng mạnh hơn là Yamatô chinh phục. Vương quốc Yamatô xuất hiện vào khoảng cuối thế kỉ IV sau Công nguyên ở miền tây nam đảo Honshu. Sự hình thành nhà nước Yamatô là kết quả của quá trình chinh phục và chiếm đoạt đất đai của nhiều tiểu quốc và họ đã cử sứ thần sang Trung Quốc cầu phong. Quá trình chinh phục đó phần nào còn được thể hiện qua câu chuyện truyền thuyết về người anh hùng xứ Yamatô, sinh ra từ nhân dân và là hiện thân cho lí tưởng của cả một dân tộc. Người đứng đẩu nhà nước Yamatô đã phát triển thế lực và trở thành thiên hoàng, nguồn gốc của vua Nhật sau này. Thiên hoàng tập hợp các tộc họ có thế lực và biến thủ lĩnh các bộ lạc thành các quan thay mặt cho chính quyền trung ương ở các địa phương. Đến thế kỉ V sau Công nguyên, nước Yamatô đã thống nhất được cả Nhật Bản.

Từ năm 710 đến năm 794 là thời kỳ Nara vì kinh đô của Nhật Bản đóng ở Nara. Đây cũng là thời kì mà văn hoá Trung Quốc có ảnh hưởng tới nhiều mặt chính trị, xã hội Nhật Bản, tuy nhiên, người Nhật không hoàn toàn bắt chước mà biết chọn lọc, sửa đổi cho phù hợp với hoàn cảnh đất nước mình. Ở thời kỳ này, kinh đô Nara cũng được xây dựng mô phỏng theo theo kinh đô Tràng An của nhà Đường ở Trung Quốc. Kinh đô Nara quy hoạch theo kiểu ô bàn cờ, chiều Đông – Tây dài 5,9 km và chiều Nam – Bắc là 5,1 km. Thành Nara có trục trung tâm rộng 90 mét, chạy thẳng đến cung điện hoàng gia. Đầu phía Bắc tập trung nhiều dinh các bộ, phía Đông và Tây có nhiều chợ, miếu mạo, lăng tẩm. cửa Rajômô ở phía Nam kinh thành Nara là một công trình lớn và bề thế.