Cố đô Tràng An – P1

Tràng An hay Trường An là kinh đô cổ của Trung Quốc và từ thời Minh được gọi là Tây An. Kinh đô được hình thành cách đây chừng 3000 năm và là nơi tập trung nhiều công trình văn hóa nổi tiếng. Đây cũng là cố đô của nhiều triều đại Trung Hoa từ Tây Chu đến các triều đại phong kiến Tần, Tây Hán, Tiền Triệu, Tiền Tần, Hậu Tần, Tây Ngụy, Bắc Chu, Tùy, Đường. Vùng Trường An thuộc trung tâm bình nguyên tỉnh Thiểm Tây, là nơi đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa, nguồn nước dổi dào, rất có lợi cho thảm thực vật phát triển. Bao quanh Trường An có tám con sông trong đó sông Vị và sông Phong có vị trí quan trọng. Xung quanh Trường An cũng có những núi cao và đẹp nổi tiếng như Thái Bạch Sơn, Tây Nhạc Hoa Sơn, Thúy Hoa Sơn, Lý Sơn.

Cố đô Tràng An - P1 1

Cố đô Tràng An - P1 1

Sơ đồ vị trí thành Tràng An và các di tích lịch sử

Chính vì môi trường thiên nhiên vùng Trường An ưu việt, nên con người từ thời cổ xưa đã đến đây sinh cơ lập nghiệp. Các nhà khảo cổ Trung Quốc đã đào được di chỉ Bán Pha cách thành phố Tây An 6km về phía tây. Di chỉ này rộng chừng 50.000m2, là một làng thuộc xã hội thị tộc mẫu hệ, cách đây gần 6000 năm. Trong làng này còn lại 45 ngôi nhà, hơn 250 mộ táng, hơn một vạn đồ dùng sinh hoạt và sản xuất. Làng chia làm nơi ở, nơi làm gốm, nơi chôn cất, làng có khoảng 5600 người, chứng tỏ mức độ tập trung người nguyên thủy ở đây đã khá đông.

Từ thời Tây Chu, cách đây khoảng 3000 năm, vùng đất này đã được chọn để dựng đô gọi là Phong Hạo Kinh. Đây là thành thị lớn nhất Trung Quốc lúc bấy giờ. Phong Hạo Kinh nằm ở hai bờ sông Phong, một bên là Phong Kinh, một bên là Hạo Kinh. Mỗi kinh đều xây thành hình vuông, có ba cửa thành. Trong thành thì cung điện ở phía nam, chợ búa ở phía bắc, phía trái xây đền miếu thờ cúng tổ tiên, phía phải xây đàn xã tắc.
Cuối đời Chu giặc Nhung vào quấy phá, Chu Bình Vương dời đô về Lạc ấp. Phong Kinh, Hạo Kinh bị chiến tranh tàn phá, thành quách bị phá hủy thành ruộng vườn và cho đến thời Xuân Thu thì không còn dấu tích gì nữa.

Cố đô Tràng An - P1 1

Đại lộ trung tàm Tây An

Đến thời Tần, sau khi chiếm được trung nguyên, trải qua mấy lần dời đô, cuối cùng định đô ở Hàm Dương cách Tây An ngày nay khoảng 7km. Cung điện thời Tần chủ yếu xây ỏ Hàm Dương, ngoài cung điện của Tần Hiếu Công, Tần Huệ Văn vương, Tần Thủy Hoàng còn xây dựng nhiều cung điện lộng lẫy mà đến nay chỉ còn lại một số di tích như những bích họa, những’ loại gạch rỗng xây dựng bậc thềm, hệ thống thoát nước ngầm dưới đất. Cung điện nổi tiếng thời Tần Thủy Hoàng là Cung A Phòng, nằm ở ngoại vi phía tây thành phố Tây An ngày nay.

Nhà Tần diệt vong, Hạng Vũ tiến vào Hàm Dương đốt cháy các cung điện nhà Tần và đốt cháy cả cung A Phòng “lửa cháy trong 3 tháng không tắt”. Vậy là nơl đây đã từng là một đế đô mà nay trở thành đống tro tàn.

Sau khi thắng Hạng Vũ, Lưu Bang quyết định chọn Trường An xây thành đắp lũy tạo dựng kinh đô mới, thành Trường An nhà Hán nằm ở phía tây bắc thành phố Tây An ngày nay. Thành nhà Hán có chu vi 25,7km, diện tích 36km2, thành hình vuông nhưng khuyết góc tây bắc giống sao Bắc Đẩu nên gọi là “Đẩu thành”. Thành Trường An nhà Hán có các cung điện nổi tiếng như: cung Vị Anh, cung Trường Lạc, cung Kiến Chương, mỗi cung đều là một quần thể kiến trúc lớn. Cung Vị Anh nằm ở tây nam thành, là trung tâm thống trị của thời Lưỡng Hán. Cung này có 43 tòa điện, tổng cộng chu vi 9km, chiếm khoảng một phẩn bẩy diện tích của thành Trường An. Cung Trường Lạc nằm ở phía đông nam, là nơi ở của hoàng hậu, bao gồm 17 tòa điện. Khu cung điện này có chu vi 10km, diện tích 6km2 chiếm khoảng một phần sáu diện tích thành Trường An. Cung Kiến Chương nằm ở phía phía tây, xây dựng từ thời Hán Vũ đế, được mệnh danh là “Thiên môn vạn hộ” có quy mô lớn nhất và tráng lệ nhất. Đây là nơi vui chơi của các đời vua từ Hán Vũ đế trở đi. Phần còn lại của thành là chỗ ở của cư dân và thợ thủ công cùng với chợ búa.

Thành Trường An đời Hán là kinh đô của các triều đại Tây Hán (206tCn – 23sCn), tường thành đắp bằng đất khá cao, dày và chắc chắn, mỗi mặt thành đều có 3 cửa. Đường giao thông trong thành rất rộng lớn, uy nghiêm được bố bố trí theo các hướng Đông Tây Nam Bắc. Tám đường chính có chiều rộng 45m, đường trục trung tâm dài 5,5km.
Vào năm 582, niên hiệu Khai Hoàng thứ hai đời Tùy (581 – 618), Tùy Văn Đế thấy thành Trường An cũ, do các triều đại trước để lại quá chật hẹp, đã chọn đất rộng ở phía Đông Nam thành cũ, gần Long Thủ Sơn, xây một tòa thành mới, đặt tên là Đại Hưng Thành.

Đại Hưng Thành nằm trên bờ nam sông Vị, nhìn sang núi Chung Nam – một thắng cảnh nổi tiếng. Để cấp nước cho Đại Hưng Thành, triều đình đã cho đào ba con sông: sông Quang An và sông Thanh Minh ở phía nam, sông Long Thủ ở phía Đông. Ba con sông này uốn khúc quanh vườn Ngự Uyển trong thành rồi chảy ra sông Vị. Hai bờ sông trồng toàn liễu, cảnh đẹp đã được nhà thơ Vương Kiện đời Đường miêu tả bằng câu thơ: “Liễu bên sông in lồng bóng nước”. Đại Hưng thành do ba bộ phận hợp thành: Quách Thành, Hoàng Thành và Cung Thành, rộng khoảng 84km2. Cung thành ở giữa, hơi lấn sang phía Bắc, tường thành rộng trung bình 16m, cao 10m. Liền kề với Cung Thành là Hoàng Thành; Quách Thành là vòng thành ngoài cùng có nền rộng từ 9-12m, cao 6m bên ngoài có hào rộng 8m sâu 4m, gọi là Hộ Thành Hà.

Đời Đường, thành Trường An được tôn tạo, mở rộng thêm trên cơ sở Đại Hưng Thành, có chu vi 36,700km, chiều Nam Bắc dài 8,651 km, chiều Đông Tây 9,721 km. Khu vực phía Bắc, chính giữa là Cung Thành, góc Đông Bắc là Thái Minh Cung, được xây dựng vào năm Trịnh Quán thứ 8 (643), trẽn khu đất cao thuộc Long Thủ Sơn. Thái Minh Cung là một quần thể kiến trúc bao gồm nhiều lâu đài, vườn hoa, điện đường, trong đó nguy nga tráng lệ nhất là điện Hàm Nguyên. Điện xây trên một nền cao 15m, mặt tiền là Long Phụng Đạo – một hệ thống tầng bậc dài tới 70m, xây bằng đá xanh. Từ đại điện tỏa sang hai bên là hành lang có mái che và lan can sơn son thiếp vàng lộng lẫy, dẫn đến Tường Loan các và Thê Phụng các, kết hợp với đại điện, tạo thành hình Thần Điểu vươn cánh bay lên.

Trong thành theo chiều Nam Bắc có 11 con đường lớn; theo chiều Đông Tây có 14 con đường lớn chạy song song và cắt ngang nhau, chia khu vực trong Quách thành thành 108 ô vuông gọi là phường; trong mỗi phường còn có nhiều ngõ nhỏ, là nơi ở của bình dân. Giữa Cung thành (Đế thành) và Hoàng thành là một dải đất rộng 220m. Một con đường lớn từ cửa Thừa Thiên của Cung thành thông ra cửa Chu Tước của Hoàng thành rộng 150m, hai bên có hệ thống cống thoát nước, lề đường trồng cây hòe, chạy qua các phường trong Quách thành, gọi là đường Chu Tuớc môn, thông ra cổng Minh Đức của Quách thành.

Về quan hệ đối ngoại, Trường An lúc bấy giờ đã có quan hệ với rất nhiều nơi trên thế giới, từ đó văn hóa nhà Đường cũng đã được truyền bá ra nhiều nước khác. Qua việc giao lưu Trường An cũng đã nhận ảnh hưởng từ các nền văn hóa khác. Người ta thấy ở Trường An đã có dùng các loại thảm theo kiểu dáng Ba Tư, các điệu vũ của người Hồ thuộc các quốc gia Tây vực cũng thấy rõ trong các điệu múa của người Trường An. Ngay cả y phục, âm nhạc, cách thức ăn uống cũng chịu nhiều ảnh hưởng của người Hồ. Đường Huyền Tông chơi cầu giỏi và Dương Quý Phi múa uyển chuyển đều là những điều học được từ người Hồ. Như vậy Trường An lúc bấy giờ đã là một trung tâm văn hóa quan trọng ở Trung Quốc và chỉ riêng về mặt bố cục kiến trúc cũng cho thấy những ý tưởng rất tiến bộ.