Các phong cách kiến trúc truyền thống Thái Lan – P1

Phong cách Xukhôthai (thếkỷ XIII – XV)

Đây là phong cách vào thời kỳ mở đầu của nhà nước Xukhôthai, nhà nước độc lập đầu tiên của người Thái ở Thái Lan vào năm 1240. Đây là phong cách được đánh giá rất cao, được coi là giai đoạn phát triển nghệ thuật tiêu biểu và độc đáo nhất của nghệ thuật Thái Lan. Ở thời kỳ này, người Thái đã tiếp thu những di sản của nền nghệ thuật Môn và Kh’me được phát triển ở những giai đoạn trước có sự kết hợp với một số ảnh hưởng của nghệ thuật Ấn Độ để hình thành nên nền nghệ thuật của riêng mình. Trong nền nghệ thuật này, các tượng Phật giữ một vai trò quan trọng, đó là một loại điêu khắc đã đạt tới trình độ hoàn thiện cao hơn, được thưc hiện với nhiều loại chất liệu: đồng, đá, đất nung và vôi vữa. về cấu trúc của tượng cũng được thể hiện với nhiều tư thế của Phật (tượng đứng, đi, ngồi, nằm). Người Thái đã tiếp thu nhiều nguồn ảnh hưởng khác nhau để tạo ra một phong cách sáng tạo riêng đối với các tượng Phật. Tượng Phật ở Thái Lan vào thời Xukhôthai được coi là đạt tới trình độ thẩm mỹ cao, với dáng tượng mềm mại, uyển chuyển dù ở tư thế đứng, ngồi, nằm hay đi tượng Phật đều gây những ấn tượng đặc sắc riêng. Đặc biệt, những pho tượng được tạo hình với tư thế Phật đi với một gót chân đứng thẳng và một gót chân nhấc lên, tay đưa lên làm động tác thuyết pháp được coi là tác phẩm có giá trị nghệ thuật đặc biệt. Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá tượng Phật ở tư thế đi của thời kỳ Xukhôthai là một đỉnh cao của nghệ thuật ở Đông Nam Á và có thể sánh ngang với nghệ thuật tượng ở nhiều nơi trên thế giới.

Nghệ thuật kiến trúc Thái Lan vào thời Xukhỏthai cũng đạt tới trình độ hoàn thiện khá cao và đã trở thành một mô hình được lặp lại trong nhiều thời kỳ sau. Ở giai đoạn này người ta thấy đã xuất hiện một số dạng kiến trúc tháp (Chedi) rất tiêu biểu. Có loại dạng tháp được tạo hình trên nền vuông cao có nhiều bậc, thân tháp được cấu trúc theo kiểu đền tháp Kh’me có hình dáng tạo hình kiểu bắp ngô với đỉnh là những búp sen to. Tiêu biểu cho loại tháp này là công trình tháp lớn của chùa Vat Mahathat ở trung tâm đô thị Xukhôthai và tháp lớn ở Vat Chedi Chéttheu ở Sisatchamalai. Một dạng khác có mặt bằng hình tròn gần gũi với các kiến trúc tháp của Xrilanca, loại tháp này thường có các hình trang trí bao quanh chân nền của tháp và được tạo hình các con voi. Một dạng thứ ba là dạng kết hợp giữa thân vuông như ở ngôi đền Srivijaia với đỉnh là một tháp tròn lớn theo kiểu Xrilanca. Từ thế kỷ XIV trở đi vương quốc Xukhôthai đi vào giai đoạn suy tàn và mở ra hai vương quốc mới là Lana ở miền Bắc và Autthia ở miền Trung, tuy nhiên nghệ thuật Xukhỏthai vẫn còn để lại nhiều dấu ấn cho tới tận thế kỷ XVI.

Phong cách Lana hay Chiang sẻn (thế kỷ XI – XVIII)

Song song với sự phát triển của Xukhôthai thì ở miền Bắc Thái Lan đã hình thành vương quốc Lana mà trung tâm là Chiêng Mai đã mở ra một thời kỳ tiếp thu và phát triển truyền thống nghệ thuật Môn Hariphunxay. Các nghệ sĩ thời kỳ này đã sáng tạo ra một phong cách nghệ thuật riêng được mang tên địa phương này, được hình thành từ thế kỷ XI – XII, đạt tới độ phát triển cao vào thế kỷ XIII – XIV, đặc biệt là thời vua sùng đạo tên là Guna (1356 -1385).

Có một sự kiện quan trọng vào giữa thế kỷ XIV là các nhà sư ở Xukhôthai được mời tới Lana để giảng đạo, Vua Guna đã xây nhiều chùa ở Chiêng Mai và qua đó ảnh hưởng của nghệ thuật Xukhỏthai đã lan tới miền Bắc của Thái Lan. Vào năm 1455, ở thời kỳ phát triển cao của đạo Phật, vua Tilôka đã cho xây ngôi chùa Bảy đỉnh (Vat Chẹt Yot) mô phỏng một dạng đền của Ân Độ. Ngoài ra, ở vùng này còn có những ngôi chùa được cấu trúc theo kiểu tháp Kukut của người Môn ở Lămpun. Một công trình quan trọng của dạng này là chùa tháp Chedi Siliêm được cấu trúc theo kiểu tháp vuông có năm tầng cao và được thu nhỏ dần về phía đỉnh, các mặt ở mỗi tầng đều có những khoang lớn chứa tượng Phật.
Vào thời vua Meng Rai có xây một số tháp tròn theo kiểu Xrilanca nhưng được đặt trên bệ cao hình vuông theo kiểu nghệ thuật Xukhôthai.

Thông qua các ảnh hưởng của Xukhôthai, nghệ thuật Srivijai cũng để lại nhiều dấu ấn ở miền Bắc Thái Lan như trường hợp chùa tháp Vat Pasăk ở Chiêng sẻn do vua Saen Phu xây vào đầu thế kỷ XIV. Giai đoạn phát triển cao của nghệ thuật Lana được kéo dài tới giữa thế kỷ XVI và bị kết thúc vào lúc người Miến điện đánh chiếm.

Phong cách uthong (thê kỷ XII – XV).

Cùng thời với sự phát triển của nghệ thuật Lana ở phía Bắc, thì tại miền Trung của Thái Lan, nghệ thuật Xukhôthai cũng được phát triển theo một phong cách mới mang tên nghệ thuật uthong. Phong cách chung của giai đoạn nghệ thuật này được phát triển trên cơ sở tổng hợp hai yếu tố đã có từ trước ở miền Trung Thái Lan là phong cách Đvaravati và phong cách Lôpburi. Về cơ bản, nghệ thuật uthong cũng dựa trên những hình tượng của Đạo Phật và các tác phẩm tiêu biểu cũng là những tượng Phật.

Tuy nhiên, nghệ thuật điêu khắc ở uthong đã được phát triển qua nhiều giai đoạn với những đặc trưng khác nhau: giai đoạn đầu (thế kỷ XII – XIII) mang nhiều yếu tố hỗn hợp của Đvaravati và Lôpburi với hình ảnh đỉnh đầu hình búp sen, nhóm thứ hai vào khoảng thế kỷ XIII – XIV chịu nhiều ảnh hưởng của Lôpburi với hình tượng các chóp hình ngọn lửa, nhóm thứ ba vào khoảng thế kỷ XIV – XV thì mang ảnh hưởng rõ nét của nghệ thuật Xukhôthai.

Về kiến trúc của thời kỳ nghệ thuật uthong cũng rất đa dạng, có loại được kết hợp giữa các phong cách Xukhôthai và Srivijai như ngôi đền Pra Mahathat ở Chainat, hoặc có kiểu bắt nguồn từ dạng đền tháp của Kh’me như công trình chính của khu đền Vat Pra Siratana ở Lôpburi. Tuy nhiên so với các công trình của Kh’me thì các công trình của uthong được làm cao hơn, có dáng dấp thon hơn và được đặt trên các bệ tương đối cao. Loại hình kiến trúc này cũng được phát triển về sau vào thời Autthia.