Bản sắc kiến trúc Nhật Bản

Bản sắc kiến trúc Nhật Bản được biểu hiện trên các mặt:

– Sử dụng rộng rãi các vật liệu tự nhiên và trước tiên là gỗ. Họ cho rằng gỗ giúp hấp thu độ ẩm không khí vào tháng ẩm ướt và nhả hơi ẩm khi không khí khô, gỗ có khả năng “truyền dẫn hơi thở” nên phù hợp với khí hậu Nhật Bản. Cùng với gỗ là tranh, vỏ cây và cả đất sét để lợp mái. Rất nhiều công trình bằng vật liệu tự nhiên đã tồn tại lâu dài với thời gian.
– Gắn kết kiến trúc vào khung cảnh tự nhiên thể hiện trong mọi thể loại công trình, từ các trà thất bé nhỏ tới các cung điện, lâu đài to lớn, công trình kiến trúc và vườn cảnh luôn gắn kết như một thể thống nhất.
– Một cái đẹp vữa hoa mỹ vừa dung dị được vận dụng khéo léo vào từng hoàn cảnh, trong tổng thể cũng như từng chi tiết.
Qua quá trình phát triển kiến trúc và đô thị nêu trên, dễ dàng nhận ra một số công trình tiêu biểu như là những cột mốc để lại những dấu son trong lịch sử kiến trúc truyền thống ở Nhật Bản.

Bản sắc kiến trúc Nhật Bản 1
Lẩu vàng Kinkakuji

Thời kỳ triều đình đóng đô ở Nara (710 – 794) là thời kỳ hoàng kim của đạo Phật và cũng là của nghệ thuật kiến trúc tiêu biểu cho nghệ thuật cổ điển Nhật chịu ảnh hưởng của kiến trúc Trung Quốc. Vào thời Đường nhiều tác phẩm toát lên lý tưởng cao siêu và một không khí thanh thản. Công trình kiến trúc huy hoàng nhất là chùa Tôđaigi (Đông đại từ) ở đó có tượng Đaibutsư (Đại Phật) bằng đồng cao 16m. Chùa do Thiên hoàng Somu xây dựng năm 752 đã qua hai lần bị cháy do chiến tranh. Những xưởng thủ công của triều đình tập hợp nhiều nghệ nhân (điêu khắc, họa, viết chữ nho) để trang trí chùa chiền, hoàng cung đã góp phần tạo dựng chùa này. Tượng thờ bằng đồng đen, cao 16 m, nặng hơn 400 tấn.

Toà nhà chính chùa Todaigi dài 57 met, cao 49 met, được coi là kiến trúc cổ bằng gỗ lớn nhất thế giới và tượng Phật ở chùa cũng là tượng Phật bằng đồng lớn nhất ở Nhật. Trong quần thể kiến trúc chùa ngoài hai toà đại diện còn có toà bảo tháp, các tăng đường là chỗ ở của pháp sư, trà thất, nhà trung bày bảo tàng và vườn cảnh, cổng chính của chùa cũng là một toà nhà nguy nga với bộ mái đồ sộ do 18 cột gỗ cao 21 met chống đỡ. Todaiji (Đông đại tự). Là ngôi chùa cổ rất nổi tiếng ở Nhật Bản, là công trình kiến trúc bằng gỗ quy mô lớn còn tồn tại đến ngày nay. Todaiji là một quần thể gồm nhiều công trình kiến trúc được thiên hoàng Shomu (một vị vua sùng mộ Phật giáo) và các cao tăng người Ấn Độ, Nhật Bản xây dựng. Ngoài ra ngôi đền Kasuga (Xuân Nhật Xã) cũng rất nổi tiếng ở Nara, do một dòng họ quý tộc có thế lực nhất trong triều đình thời kỳ Tempyo (thế kỷ thứ 8) xây dựng để thờ tộc thần. Kiến trúc theo phong cách Kasuga, giản dị nhưng độc đáo, sườn gỗ, mái lợp bằng gỗ cây đỗ tùng tách mỏng, xếp chồng từng lớp, dưới hàng hiên sơn đỏ có treo nhiều đèn bằng đổng, lớp mái rêu phong cùng những giò lan nở rộ làm tăng vẻ huyền bí, u tịch của ngôi đền cổ.

Vào năm 618 sCn Trung Hoa bước vào một giai đoạn huy hoàng, thời nhà Đường dài gần ba thế kỷ. Đế quốc Trung Hoa trải rộng từ sông Hoàng Hà đến bờ biển Caspian. Lúc này Nhật Bản là nước nhỏ hơn Trung Hoa, ở đây các dòng tộc địa phương và các chúa đất phong kiến nắm ảnh hưởng các dòng Hoàng Tộc. Thái tử Shokotu (573-621 sCn) mong muốn được thấy quyền lực hoàng tộc ngang bằng với hoàng đế Trung Hoa, đã cố gắng biến đổi đất nước Nhật trở thành một đất nước quyền lực tập trung vào trung ương.
Gần 90 năm sau khi Shokotu băng hà, nữ hoàng Gemmyo quyết định tranh đua với người Trung Hoa, bà cho xây một thành phố theo khuôn mẫu của kinh đô Tràng An, nhà Đường, trên một mặt bằng hình chữ nhật, mang tên Heijo – Kyo.

Cũng mô phỏng theo kiến trúc ỏ Tràng An của Trung Quốc, bà đã cho xây dựng một cung điện hoàng gia có tên là Heijo (Bình Thành cung). Là kinh đô của Nhật Bản trong 74 năm của thời kỳ Nara (710-784) Heijo – kyo có chiều dài Bắc – Nam 4,8 km, Đông – Tây 4,3 km cư dân khoảng 20 vạn người. Với 74 năm lịch sử, Nara là cái nôi của nền văn minh Nhật Bản, nơi khai sinh và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống. Và cũng là nơi Phật giáo được hoằng dương nhờ lòng mộ đạo của các vua trị vì. Ảnh hưởng của Phật giáo thể hiện ở việc đúc tượng Phật bằng đồng thờ tại chùa Todaiji (Đông đại tự) vào năm 752. Ngoài ra còn có hàng chục ngôi chùa nổi tiếng, vừa là quốc bảo vừa là bảo tàng lưu trữ nhiều tác phẩm mỹ thuật cổ. Heijo-kyo ngày nay trở thành một di chỉ khảo cổ học thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu và do Khoa Điều tra di chỉ Heijo-Palace (Division of the Heijo-Place Site Investigation) thuộc Viện nghiên cứu tài sản văn hoá quốc gia Nara (Nara National Cutrural Properties Resaerch Institute)

Vẻ đẹp của Nara nằm trong những ngôi đền vĩ đại của phật giáo cổ kính nhất ở Nhật Bản. Phật giáo du nhập vào Nhật Bản vào thế kỷ VI sCn qua đường Trung Hoa và Triều Tiên. Từ năm 645 là kỷ nguyên của sự mô phỏng Trung Hoa, khoảng 50 năm sau đó triều đình dời về Nara. Thành phố trở thành kinh đô và một nền văn hoá mới mở ra, hấp thụ nhiều khuynh hướng văn minh của đế chế Trung Hoa. Trong thời kỳ Nara (năm 710 – 784 sCn), nền văn hoá đã thăng hoa hơn hẳn trước đó. Nara đã có nhiều mái đền sơn son thiếp vàng rực rỡ và những đển chùa nổi bật, trong đó có công trình kiến trúc bằng gỗ cổ được coi là cổ xưa nhất trên thế giới: khu chùa Horyuji.

Phật giáo đến nước Nhật vào năm 552 sCn, lúc ấy vua Triều Tiên Kudara gởi kinh điển Phật giáo đến cho Kimmei-Tenno, vị hoàng đế thứ 29 của Nhật Bản, cùng với một tượng Phật bằng đống. Tuy nhiên vì sợ ràng tôn giáo mới có thể xúc phạm những Kami cổ của Nhật Bản, hoàng đế Nhật đã ra lệnh cho đốt phá những đền chùa Phật giáo mới. Nhưng qua thế kỷ tiếp theo, Đạo Phật lại trở thành tôn giáo nổi trội của Nhật Bản.

Hàng ngàn ngôi chùa Phật giáo được xây dựng khắp nước Nhật và có một chút xung đột với Thần Đạo. Với nỗi khát khao tìm kiếm sự giác ngộ tâm linh, Phật giáo có nền tảng triết lý hơn Thần Đạo, nhưng Phật giáo cũng đặt sự thiêng thiêng lên mọi vật tượng tự như đức tin Thần Đạo nên ở nhiều vùng, hai hệ thống này hoà trộn với nhau trong đời sống tôn giáo của người Nhật.

Mặc dù có sự khác biệt với những đền thờ và điện thờ của Phật giáo được xây dựng từ thế kỷ VIII, Nara vẫn duy trì những điện thờ của Shinto.
Đến thế kỷ thứ VI, Phật giáo du nhập khiến cho nghệ thuật nở rộ, nhất là vào thời kỳ Asuka (538 – 645) khi đạo Phật được Nhật Hoàng bảo vệ; nhiều đền chùa được xây dựng, nổi bật có chùa Hỏryugi (Pháp long tự) ở gần cố đô Nara, được coi là kiến trúc bằng gỗ cổ nhất thế giới. Chùa hình tháp cao năm tầng. Khác với kiến trúc Triều Tiên và Trung Quốc dùng đá hoặc gạch để đỡ toà nhà, chùa Hôryugi dùng cột lớn bằng gỗ cây bách. Tục truyền vị thần Xuxanô nhổ râu gieo xuống đất, đất mọc lên loài thông tuyết; ngài gieo lông ngực thì được loài bách, gieo lỏng mày thì được loài long não, gieo lông ở dưới mông thì được loài thông. Ngài phán: “ Bách dùng làm nhà, thông tuyết và long não dùng làm thuyền, còn thông để đóng quan tài”. Cho đến thế kỷ XII, nhà làm bằng gỗ bách. Gỗ của cây mọc ở sườn núi phía nam của núi được dùng vào phần phía nam của chùa; gỗ hướng nào phải chọn xây hướng ấy…Khi trùng tu chùa, người ta thấy qua 1.300 năm, đinh vẫn chưa dỉ, sắt tốt hơn bây giờ. Chùa có nhiều tượng đồng, gỗ, đất. Tiếc thay, chính diện có nhiều bích hoạ bị cháy hoàn toàn năm 1949. Điêu khắc thời kỳ Asuka trang nghiêm cao cả.