Bắc Kinh – P2

Phía bắc của hậu tam cung là Vươn Ngự Uyển, một khu vườn nhỏ nhưng đẹp và tinh xảo dành riêng phục cụ hoàng gia.
Tận cùng phía bắc đối diện với Thần vũ môn (cổng chính phía bắc Tử cấm thành) là khu rừng cây bao bọc núi cảnh sơn có vai trò làm cảnh nền cho quần thể kiến trúc Tử cấm thành. Trên đỉnh núi cảnh sơn có đình Vạn Xuân là nơi dừng chân ngắm toàn cảnh kiến trúc cổ Bắc Kinh.
Điêu khắc đá thềm bệ các cung điện ở Tử cấm thành cũng là một công trình lao động nghệ thuật kỳ vĩ. Thềm bệ cao 8m của ba cung điện chính cùng với hệ thống tường lan can rất dài, rộng được chạm khắc rất tinh xảo đã nói lên trình độ chạm khắc đá thời cổ ở Trung Hoa.
Đặc biệt là các tấm đá cực lớn trải dài theo bậc dốc các lối lên thềm ở trước và sau của ba cung điện chính thực sự là tác phẩm điêu khắc khổng lồ. Tấm đá điêu khắc trước thềm bệ điện Thái Hoà gồm ba tấm ghép lại, nhưng tấm đá ở bậc thềm phía sau điện Bảo Hoà là một tấm đá liền khối nặng tới 200 tấn (dài 16,57m, rộng 3,07m, dày 1,7m).
Những người lao động thời xưa đã đạt trình độ rất cao trong việc khai thác và vận chuyển những khối đá lớn này từ mỏ đá Phòng Sơn (phía tây nam ngoại thành Bắc Kinh) đưa vể xây dựng và trang trí các cung điện Tử cấm thành.

Bắc Kinh - P2 1
Đường sang Tây lục cung

Bắc Kinh - P2 1
Cung Càn Thanh là nơi ở của vua

Ngói lưu ly và cá Tượng trên mái nhà là một bộ phận quan trọng trong nghệ thuật kiến trúc của các cung điện cổ ở Bắc Kinh.Từ trên núi cảnh sơn ở phía bắc nhìn xuống Tử cấm thành sẽ thấy trùng trùng lớp lớp các mái cung điện lợp ngói lưu ly óng ánh nhiều màu sắc dưới tia nắng mặt trời.Nghề gốm cổ truyền của Trung Quốc đã tạo nên sản phẩm quý giá này, đó là một thứ men ngọc không thấm nước và có nhiều mầu sắc rực rỡ: vàng, xanh, xanh lam, tím, trắng…

Mái ngói lưu ly màu vàng chuyên dùng cho cung điện của triều đình, kết hợp với màu tường đỏ sẫm tạo nên vẻ đẹp quyền quý và trang nghiêm.
Tượng các con thú cũng bằng loại gốm này trang trí trên góc mái càng tôn nổi vẻ hoành tráng của kiến trúc. Góc mái điện Thái hoà trang trí mười tượng thú nhỏ, đó là số lượng lớn dành cho công trình quan trọng nhất. Các con vật được chọn cũng là những con vật “thiêng”: rồng, phượng, sư tử, ngựa, nghê, cá…
Số lượng thú trang trí ở mái nói lên tầm quan trọng của kiến trúc đó.
Cửu Long Bích tức bức tường có chín con rồng đắp nổi là một tác phẩm nghệ thuật rất đặc sắc, tôn thêm không khí trang nghiêm và làm đẹp thêm không gian kiến trúc.
cửu long bích ở cung Ninh Thọ được làm vào năm 1771 đến 1776 (thời vua Càn Long) là một tác phẩm nổi tiếng về hình tượng nghệ thuật cũng như kỹ thuật đắp tượng. Tấm tường có chiều dài 29,4m, cao 3,5m được ghép bằng 270 tấm lưu ly lớn. Chín con rồng màu sắc khác nhau bay lượn với nhiều tư thế uyển chuyển trên mây, núi, biển cả tạo nên một bố cục hài hoà và rất độc đáo. Trong công viên Bắc Hải (phía tây Tử cấm Thành) cũng có một tác phẩm tương tự.

Rồng tượng trưng vai trò bá chủ thiên hạ của hoàng đế. Dưới rồng có cảnh núi non, sông ngòi và biển cả là thể hiện giang sơn xã tắc nằm trong vòng tay cai trị của hoàng đế.
Thiên Đàn là nơi vua làm lễ tê’ trời. Trong quan niệm xưa ở Trung Quốc, vua là “con của trời” (thiên tử) nên có nhiệm vụ tế trời hàng năm để cầu xin và tạ ơn trời đã ban phúc cho dân cư được no ấm, thiên hạ thái bình. Bốn phía của Thành nội Bắc Kinh có: Thiên đàn phía nam, Địa đàn phía bắc, Nhật đàn phía đông và nguyệt đàn phía tây. Thiên đàn là công trình có quy mô lớn nhất, ngoài ra cũng ở phía nam còn có Tiên nông đàn (cầu mong nông nghiệp phát triển).
Thiên đàn gồm ba cụm công trình chủ yếu là: Hoàn Khưu đàn, Hoàng Khung vũ và Kỳ niên điện nằm trên trục chính của tổng thể kiến trúc Thiên đàn. Ngoài ra còn có Trai cung nằm về phía tây liền với khu cổng vào là nơi vua đến trai giới trước khi làm lễ.

Khu đất Thiên đàn có hình gần vuông rộng 273ha (1700mx1600m) có hai vòng thành bao nhau, cạnh phía nam vuông góc, cạnh phía bắc khoanh tròn, thể hiện ý tưởng “trời tròn đất vuông”. Trên khu đất có rất nhiều cây cao bóng cả tạo nên không khí trầm tĩnh phù hợp với việc giao hoà giữa đất với trời.
Di Hoà viên tức cung điện mùa hè là nơi vua và triều thần đến nghỉ tránh nắng về mùa hè. Nằm cách trung tâm Bắc Kinh 15 kilomet về phía tây bắc, đây là ngự viên rộng lớn nhất còn lại ở Trung Quốc (diện tích 290ha – trong đó 220ha là hồ nước, có hơn 3000 công trình kiến trúc các loại). Khu vưòn nằm ở phía bắc hồ Côn Minh, bao quanh núi Vạn Thọ.
Tổng thể kiến trúc được hình thành qua nhiều thời kỳ và cũng nhiều phen bị phá huỷ do chiến tranh. Năm 1886 Từ Hy Thái Hậu đã dùng khoản tiền rất lớn (5 triệu lạng bạc) để tu bổ và mở mang nhiều công trình quan trọng.

Kiến trúc chủ đạo ở Di Hoà viên là toà Phật Hương các nằm ở điểm cao trên núi trông ra hồ. Chạy dài theo bờ hồ dưới chân núi là một hành lang dạo mát có 273 gian dài 728m gọi là Trường lang. Ven hồ có công trình rất đặc sắc bằng đá trắng hình chiếc thuyền ghé bờ nước, bên trên là toà nhà hai tầng làm nơi vui chơi và ngắm cảnh. 
Thập tam lăng là khu lăng mộ của mười ba đời vua triều Minh được xây dựng rải rác ở các sườn đồi phía nam của dãy núi Thiên thọ (cách Bắc Kinh 50km về phía bắc). Đây là vùng cảnh quan đẹp có núi bao quanh về phía bắc và mở thoáng về phía nam như hình tay ngai với hai ngọn núi nhỏ Mãng sơn và Hổ dụ sơn.
Trước lối vào chính của toàn khu lăng có những kiến trúc cổng đồ sộ dẫn tới một trục Thần đạo dài 7km, từ đó có những nhánh dẫn vào các lăng.
Vạn Lý Trường thành nằm cách Bắc Kinh khoảng 40km về phía bắc là một trong những kỳ quan của thế giới.Phía đông từ Sơn Hải quan bên bờ Bột Hải, phía tây đến Gia Dụ quan tỉnh Cam Túc, chiều dài tổng cộng tới 3000km. Được hình thành từng phần từ thời chiến quốc đến năm 221 truớc công nguyên được nhà Tần xây đắp thêm và nối liền làm một. Các đời sau đều có tu sửa, củng cố, lần sửa chữa quan trọng nhất là vào đời Minh (thế kỷ 15-16).
Đoạn trường thành trên Bát Đạt lĩnh cao từ 6 đến 12m và dày từ 5 đến 10m, mặt trên thành có lỗ châu mai và cách khoảng 360m có một “ ụ lửa” để đốt lửa làm hiệu khi có báo động.

Bắc Kinh được phát triển qua các mốc thời gian:
1403 Minh Thành Tổ Chu Đệ dời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh, khởi công xây dựng Hoàng Thành
1406 Khởi công xây dựng từng phần Tử cấm thành 1409 Xây dựng Trường lăng ở Thập tam lăng
1420 Hình thành tổng thể kiến trúc Tử cấm thành, bước đầu xây dựng Thiên đàn
1421 Xây dựng Thiên an môn
1440 Xây dựng khu cổng chính Thập tam lăng 1564 Xây dựng khu Thành ngoại 1651 Xây dựng lại Thiên an môn 1750 Thanh y viên (tiền thân Di hoà viên)
1756 Cửu long bích ở Bắc Hải
1886 DI hoà viên
1889 Xây dựng lại Kỳ niên điện