Nam Kinh

Nay là tỉnh lị của tỉnh Giang Tô, xưa từng là cố đô của nhiều triều đại, là một trong sáu cố đô quan trọng nhất của lịch sử Trung Quốc. Nằm trên hai bờ sông Trường Giang cách cửa biển 300km, đất đai Nam Kinh phía bắc có bình nguyên Giang Hoài rộng lớn, phía đông là vùng Giang Nam phì nhiêu, phía tây có dãy núi trùng điệp thuộc tỉnh An Huy. Là một bồn địa có núi bao quanh, lại có sông Tần Hoài vắt ngang, và có các hồ Huyền Vũ, hồ Mạc sầu ở hai phía tả hữu, cảnh quan Nam Kinh được ngợi ca vừa hùng vĩ vừa thơ mộng.

Nam Kinh 1

Bản đồ du lịch Nam Kinh

Vào thời Tam quốc, vị quân sư tài giỏi Gia Cát Lượng khi đến quan sát Mạt Lăng (Nam Kinh ngày nay) dừng ngựa trên Thạch Đầu Sơn thấy hình sông dáng núi có Trường Giang án ngữ mặt tây bắc, phía đông nam có núi đồi hiểm trở, tây nam có Tần Hoài Giang vây bọc, có Thạch Đầu Sơn và Chung Sơn đối nhau đứng chặn, đã thốt lẻn rằng: “Núi Chung Sơn như rồng ấp, núi Thạch Đầu tựa hổ chầu, thật đáng là nơi ở của bậc đế vương”.

Là một vùng sinh sống thuận lợi nên ngay từ năm nghìn năm về trước, ở đây đã xuất hiện nhiều thôn xóm và thị tộc vào thời nguyên thủy. Là địa điểm có tầm quan trọng vể quân sự ở vùng duyên hải phía đông – nam của Trung Quốc nên ngay từ năm 495 tCn, Ngô Vương Phù Sai đã lập một khu nấu gang để rèn đúc binh khí, lấy tên là “giả thành” tại nơi mà ngày nay là một ngọn núi ở phía sau Triều Thiên cung. Sau đó Việt Vương Câu Tiễn đã dấy binh tiêu diệt nước Ngô, đã đắp một bức thành đất khá lớn bên bờ sông Tần Hoài gọi là Việt thành, đó chính là thời kỳ đầu tiên có thành trì ở Nam Kinh, đến nay đã trên 2400 năm. Khi nước Việt bị nước sở tiêu diệt, sở cũng xây dựng thành quách ở Thanh Lương sơn, lấy tên là Kim Lăng ấp.

Kinh đô đầu tiên được lập tại Nam Kinh là vào thời Đông Ngô (Tam Quốc). Năm 221, Tôn Quyển đã chuyển kinh đô từ Kinh Khẩu (nay là Trấn Giang) tới nơi này, đổi tên Mạt Lăng thành Kiến Nghiệp, xây dựng thêm một bức thành đá trên phần đất còn lại của Kim Lăng ấp trên Thanh Lương Sơn. Thành Kiến Nghiệp sau đó trỏ thành kinh đô của nước Đông Ngô và đến thời Đông Tấn đổi tên Kiến Nghiệp thành Kiến Khang. Vì thế thời cổ Nam Kinh còn có tên là Kiến Khang.

Như vậy tên cổ Kim Lăng của Nam Kinh cũng là bắt nguồn từ thời kỳ này. Trong quá trình lịch sử lâu dài, từ Đông Ngô, Đỏng Tấn, Đông Tề, Lương, Trần, Nam Đường cho đến đầu Minh đã có 8 vương triều tạo dựng kinh đô ở đây. Năm 1853, sau khi đánh chiếm Nam Kinh, Hồng Tú Toàn cũng đã định đô ở đây và đặt tên là Thiên Kinh.
Sau cách mạng Tân Hợi, Tôn Trung Sơn đã nhận chức vụ Tổng thống lâm thời ở Nam Kinh, sử dụng khu nhà cũ của phủ Thiên Vương (thời Thái Bình Thiên Quốc) để làm trụ sở. ông mất tại Bắc Kinh năm 1925 và năm 1929 hài cốt của ông đã được đưa về an táng và xây dựng khu lăng mộ quy mô lớn trên núi Tử Kim.

Nam Kinh 1
Cổng thành Nam Kinh

Từ năm 1911 đến năm 1949, Nam Kinh là thủ đô của chính phủ Quốc Dân Đảng. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, Nam Kinh trở thành tỉnh lị của tỉnh Giang Tỏ.
Tên Nam Kinh được ghi vào lịch sử từ thời Nhà Minh và cả quá trình phát triển lâu dài của Nam Kinh đã để lại rất nhiều di tích quý giá.

Nam Kinh cũng đã mở rộng nhiều lần qua các triều đại. Vị Hoàng đế khởi đầu Nhà Minh Chu Nguyên Chương với phương châm “củng cố thành trì, tích trữ nhiều lương thực, không vội xưng vương” của Chu Thăng đã mở mang thành trì và kiến tạo nhiều công trình xây dựng. Khởi công vào năm 1369 và liên tục trong 18 năm, thành lũy phía đỏng đã dài tới đỉnh cao phía nam Chung Sơn; phía tây dựa vào núi Thạch Đầu; phía nam có sông Tần Hoài vây bọc, phía bắc có núi Sư Tử.

Với chiều dài 33,4km, đây đã là bức thành có quy mô lớn trên thế giới. Móng thành xây đá hoa cương, thân thành xây gạch cỡ lớn, mặt thành phủ đá tấm, quân sĩ có thể phi ngựa trên mặt thành. Thành có nhiều cửa, cửa Tụ Bảo ở phía nam rất hoành tráng, cửa thành ba lớp có hầm, bốn cửa vòm ăn thông với nhau. Bên trong thành có 27 hầm để tụ tập binh sĩ, có thể chứa được 3000 quân sĩ.

Hiện nay, thành phố Nam Kinh có diện tích 6598km2, dân số 5.180.000 người, có hơn 2400 năm lịch sử, có vai trò kinh đô trong hơn 450 năm, những di sản kiến trúc ở Nam Kinh còn được lưu giữ đến nay là một kho báu quý giá của đất nước Trung Hoa. Khu phong cảnh Chung Sơn ở phía đông bắc thành phố nổi tiếng với thế “long bàn” (rồng cuộn), địa thế hùng vĩ có rừng thông xanh ngút trên những dãy núi trùng điệp. Hổ Huyền Vũ nằm dưới chân núi, sóng nước trong xanh được ngợi ca là “hạt minh châu của Kim Lăng”. Núi Thê Hà nằm ở phía đông Chung Sơn rất nổi tiếng trong giới Phật học, vào mùa thu thì núi đồi và cây cối chìm ngập trong sương. Phía nam Chung Sơn là dòng Tần Hoài trong vắt chảy qua thành phố. Trên sông thuyền bè qua lại, hai bên bờ nhiều cây cối và nhà cửa soi bóng. Phía tây thành có bức tường dốc đứng màu đỏ sẫm, ẩn hiện trong rừng cây, là dấu tích của thành Thạch Đẩu được Gia Cát Lượng gọi là “Hổ cứ” (tư thế hổ ngồi).

Nếu như ở Tây An có lăng Tần Thủy Hoàng và Bắc Kinh có Minh Thập tam lăng thì ở Nam Kinh có Minh Hiếu lăng. Đó là lăng Hoàng đế Chu Nguyên Chương – người đã sáng lập Nhà Minh. Lăng đặt ở phía nam núi Chung Sơn có những bia đá cao to, với những lối đi phong quang, các hàng tượng đá sinh động tạo nên một quần thể kiến trúc và điêu khắc trang nghiêm và uy nghi.

Cách Minh Hiếu lăng không xa có vườn lăng Tôn Trung Sơn diện tích trên 3000ha, là nơi đặt thi hài Tôn Trung Sơn – nhà cách mạng dân chủ vĩ đại của nhân dân Trung Quốc.
Nam Kinh cũng là nơi có tài nguyên thiên nhiên và đặc sản địa phương vô cùng phong phú, nổi tiếng nhất là đá Vũ Hoa, vịt ướp muối, chè Vũ Hoa và gấm hoa. Đá Vũ Hoa phân bố rộng rãi ở Nam Kinh, truyền thuyết kể rằng hoa đã từng rơi như mưa ở Vũ Hoa Đài, vùng đất hoa rơi đó về sau đã trở thành nơi có đá đẹp như hoa, được gọi là đá Vũ Hoa. Đá Vũ Hoa thực ra là những hòn đá nhỏ bị tách khỏi núi hàng trăm vạn năm trước nằm dưới lòng sông Tẩn Hoài, bị nước bào mòn tạo thành hình dáng kỳ lạ như vậy.

Về kinh tế, thành phố Nam Kinh là cơ sở công nghiệp có tính tổng hợp, có vai trò rất quan trọng để phát triển kinh tế khu vực miền đông Trung Quốc với cả hệ thống công nghiệp về điện tử, sản xuất ô tô, hóa chất cùng nhiều ngành công nghiệp chế biến của địa phương. Ngành công nghiệp hóa dầu, điện tử của Nam Kinh đứng thứ 2 trong cả nước, sản xuất ô tô đứng thứ 3.

Nam Kinh còn là một trong bốn cơ sở lớn về đào tạo và giáo dục cao cấp, một trung tâm nghiên cứu khoa học lớn của cả nước với các lĩnh vực nghiên cứu thiên văn, địa chất, vật liệu mới, sinh học, siêu dẫn ở nhiệt độ thấp… Đài thiên văn trên núi Tử Kim là đài thiên văn hiện đại có vị trí quan trọng trong lĩnh vực thiên văn của Trung Quốc cũng như thế giới.

Không chỉ là một thành phố cổ kính, có nhiều di tích lịch sử mà Nam Kinh còn là một thành phố hiện đại với các ngành công nghiệp khá đầy đủ, thương nghiệp phồn vinh, giao thông thuận lợi và có hoạt động đối ngoại phong phú. Nam Kinh ở gần sông và không xa biển cho nên đã là một điểm nút giao thông quan trọng của khu vực Hoa Đông, cảng Nam Kinh là cảng sông lớn nhất trong cả nước, cây cầu lớn bắc qua sông Trường Giang rộng lớn, là nơi gặp gỡ của ba tuyến đường sắt lớn nên cũng trở thành đầu mối đường sắt quan trọng để liên lạc với các vùng Hoa Trung, Hoa Đông và Hoa Bắc.