Một số di tích kiến trúc tiêu biểu – P2

Văn Miếu Quốc Tử Giám

Là một công trình có sự gắn bó với lịch sử phát triển văn hóa của Thăng Long – Hà Nội, Văn Miếu được coi là di sản kiến trúc có giá trị hàng đầu với một tổng thể công trình rất phong phú và có giá trị nghệ thuật cao. Được xây dựng từ khá sớm vào triều Lý (1070) làm nơi thờ các thánh hiền đạo Nho (Khổng Tử, Mạnh Tử…), năm 1076 phát triển thêm nhà QuốcTửGiám ở phía sau làm nơi học của các hoàng tử cũng như những học trò được chọn lọc trong cả nước.

Được đặt ở vị trí phía nam của đô thành Thăng Long xưa, công trình được xây dựng trong một khuôn viên rộng rãi (mặt bằng hình thang dài 306m, cạnh ngắn phía mặt trước rộng 61 m, phía sau 75m). Trên cả chiều dài đó, không gian kiến trúc được phân thành 5 đoạn và hình thành 5 khu vực nối tiếp nhau: (1) từ cổng chính Đại Trung Môn, (2) Đại Trung Môn – Khuê Văn Các, (3) Khuê Văn Các – Đại Thành Môn, (4) Đại Thành Môn – Đại Bái Đường, Hậu Cung, (5) khu Thái Học (Quốc Tử Giám). Ngoài ra cũng nằm trên trục dọc này, về phía trước còn có Hồ Văn tạo thêm cảnh đẹp về phía cổng đi vào.

Nằm ở chính giữa tổng thể này, không gian thứ ba (từ Khuê Văn Các đến Đại Thành Môn) là không gian gây nhiều ấn tượng nhất với một gương nước nằm chính giữa phản chiếu ánh sáng bầu trời (vì thế có tên “Thiên Quang Tỉnh” tức “giếng trời trong sáng”), gương nước này cũng soi bóng và nhân lên hình ảnh tuyệt đẹp của gác Khuê Văn (vẻ đẹp sao Khuê, tượng trưng văn học), công trình được xây dựng bổ sung vào triều Nguyễn. Hai bên của “Thiên Quang Tỉnh” là hai khu vườn bia (nơi dựng các tấm bia ghi tên những người đỗ tiến sĩ), hiện còn 82 tấm bia về các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779.

Tổng thể kiến trúc Văn Miếu được hình thành qua nhiều thời kỳ, chủ yếu từ đời Lý đến đời Lê, riêng “Khuê Văn Các” được bổ sung muộn hơn (triều Nguyễn). Các kiến trúc ở đây đều đạt tới trình độ cao của nghệ thuật truyền thống từ kiến trúc tới trang trí, điêu khắc. Ở khu vực cuối: trường Quốc Tử Giám (hình thành vào đời Lê), vốn là một loại trường đại học đương thời. Khi nhà Nguyễn dời trường này vào Huế thì nơi đây chuyển làm đền Khải Thánh thờ cha và mẹ Khổng Tử.

Đình Đông Ngạc

Nằm ở bờ đê sông Hồng, bên rìa làng Vẽ (còn gọi là đình Vẽ, xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm), đình được xây dựng vào năm 1635 (triều vua Lê Thần Tỏng) và đã qua nhiều lần trùng tu. Khuôn viên của đình khá rộng, vào tới sân đình phải qua hai cổng tam quan: tam quan ngoại nằm sát đường trên đề, cấu trúc nhà ba gian với bốn hàng cột gỗ, vì kèo kiểu giá chiêng; tam quan nội kiểu nhà một gian với hàng cột tạo nên một cửa lớn ở giữa và hai bên thấp hơn.

Tòa Đại Đình nằm trước sân đình rộng rãi, hai bên sân là hai dãy nhà tả mạc và hữu mạc. Tòa Đại Đình rất rộng vì bao gồm hai lớp nhà song song được liên kết với nhau, mỗi nhà có bảy gian (tám hàng cột kê trên chân tảng đá xanh), mái lợp ngói mũi hài, các đẩu đao cong vút trang trí đầu rồng. Cuối cùng là hậu cung bố trí vuông góc với Đại Đình.
Đình là nơi thờ các vị thần: Hóa Quang Tiên Sơn Đại Thánh, Lê Khôi (cháu vua Lê Thái Tổ và là người có công phò vua Lê chống quân Minh) và bản xã Thổ thần.Đình Tây Đằng

Nằm ở xã Tây Đằng (Ba Vì, Hà Tây cũ phía tây Thủ đô Hà Nội), là một ngôi đình cổ còn lại tới ngày nay, do ở đầu khung cột có khắc dòng chữ “Quý Mùi niên tạo” (làm năm Quý Mùi) nên được đoán định là đình dựng năm 1583 (thời vua Lê Anh Tông).

Tổng thể kiến trúc đình gồm ba ngôi nhà bao quanh một sân rộng, chính giữa là tòa Đại Đình và hai bên là tả mạc và hữu mạc. Tòa Đại Đình có 3 gian chính và 2 gian phụ, bộ khung gỗ có 48 cột lớn nhỏ (8 hàng ngang, 6 hàng dọc), kết cấu kiểu trồng rường, mái hiên xòe rộng và không có vách ngăn. Đình lợp ngói, các đầu đao uốn cong có các hình trang trí long, ly, quy, phượng bằng đất nung. Trên bộ khung gỗ cũng có nhiều tượng nổi và tượng tròn miêu tả khung cảnh lao động và vui chơi của người xưa bằng những hình ảnh sinh động (bơi thuyền, đốn củi, mẹ gánh con, người làm trò “trồng cây chuối”, uống rượu, chải tóc cho nhau…).

Hai dãy nhà tả mạc và hữu mạc có nét đặc sắc ở việc tạo lớp mái nhô cao trên các gian phía ngoài giúp cho tổng thể đình có sự trang trọng và có nét hoành tráng.
Đình là nơi thờ Thần Núi Tản Viên – Sơn Tinh.

Đình Chu Quyến

Còn có tên là đình Chàng (xã Chu Minh, huyện Ba Vì), là ngôi đình lớn nhất ở xứ Đoài (phía tây của Thủ đỏ Hà Nội). Đình có bộ khung gỗ đồ sộ và vững chắc với 5 gian chính và 2 gian phụ (dài 30m), tổng số 48 cột (8 hàng dọc và 6 hàng ngang). Các cột có kích thước rất lớn, bốn cột cái ở gian giữa có chu vi tới 2m (đường kính 95cm), đặt trên các tảng đá vuông mỗi cạnh 1m.

Các vì kèo được cấu trúc kiểu chồng rường, trên các cột bên có các tượng gỗ thể hiện người cưỡi các con vật (voi, hổ…) rất sinh động. Mái đình xòe rộng và uốn cong rất mềm mại, trên bờ nóc được trang trí phong phú (gạch hộp có lỗ hoa và có nhiều tượng trang trí hình rồng, dây cuốn…). Gian chính giữa là gian thờ, có cửa võng chạm trổ tinh vi hoa lá, rồng phượng, phía trên có ván lát trần, nền đình hai bên có sàn gỗ.

Đình là nơi thờ Nhã Lang (con trai đầu của Lý Phật Tử) và bà Thứ phi Lã Thị Ngọc Thanh (là mẹ của Nhã Lang). Đình đã qua nhiều lần trùng tu, theo phong cách điêu khắc trang trí có thể xem là đình được dựng vào khoảng thế kỷ XVII

Một số di tích kiến trúc tiêu biểu - P2 1
Đình Chu Quyến

Thành cổ Loa

Là một di tích lịch sử quan trọng của Thủ đô Hà Nội (xã cổ Loa, huyện Đông Anh), là thủ đô thứ hai của nước ta (sau Phong Châu ở Phú Thọ là thủ đô thời các vua Hùng).
Sau cuộc kháng chiến chống nhà Tần (Trung Quốc) thành công, vào nửa thế kỷ III trước Công nguyên, Thục Phán dựng nước Âu Lạc đóng đô ở cổ Loa, đắp thành đất bao bọc nhiều lớp. Di tích còn lại ngày nay ở cổ Loa có ba vòng thành đất: thành trong hình chữ nhật chu vi 1,6km, thành giữa hình nhiều cạnh chu vi 6,5km và thành ngoài uốn lượn tự do cùng với hào nước chu vi 8km.

Thân thành hiện nay có độ cao trung bình 4 – 5m, có chỗ hơn 10m. Chân thành rộng tới vài chục mét. Các cửa nằm trên các vòng thành được bố trí so le để hạn chế sự xâm nhập của kẻ thù.

Các di tích chủ yếu còn lại đến nay nằm ở phẩn cổng thành trong, đó là đình làng cổ Loa (theo truyền thuyết đó là nền cũ của điện ngự triều), bên cạnh có Am Bà Chúa (miếu thờ công chúa Mỵ Châu), đền thờ An Dương Vương (đền Thượng, tương truyền là dựng trên nền nội cung ngày xưa), trước đền có giếng Ngọc (tương truyền là nơi tự vẫn của Trọng Thủy). Trong vùng này, ngành Khảo cổ học cũng đã phát hiện được nhiều di chỉ đồ đá, đồ đồng, với các vật dụng và vũ khí như: lưỡi rìu, lưỡi cày, mũi tên bằng đồng, xương thú vật, trống đồng…

Khu thành cùng với các di sản kiến trúc ở trong thành cổ Loa đang được bảo tồn và tôn tạo để trở thành một điểm tham quan du lịch, khu lễ hội và cũng là một thắng cảnh hấp dẫn có giá trị của Thủ đô Hà Nội.

Thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 cùng với việc lật đổ ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, giành lại độc lập dân tộc đã đưa đất nước ta đến một kỷ nguyên mới và Hà Nội một lần nữa đảm nhiệm sứ mệnh vinh quang là Thủ đô của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Hà Nội đón chào ngày lễ lớn long trọng thành lập nước 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình chưa được bao lâu đã phải đứng lên chống lại việc thực dân Pháp muốn chiếm đóng Việt Nam một lần nữa.

Việc xây dựng Hà Nội vào thời kỳ 1955-1960 và 1960-1965 nhằm vào các công trình trong lĩnh vực nhà ở, nhà công nghiệp và nhà công cộng. Lực lượng kiến trúc thời kỳ này gồm một số kiến trúc sư được đào tạo ở trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, một số cán bộ trung cấp do ta đào tạo và một số họa viên từ xã hội cũ. Các kiến trúc sư lớp cũ đã tham gia xây dựng các công trình tranh tre, nứa, lá phục vụ kháng chiến từ nhà đất cho đến nhà sàn. Trước kia họ đã làm quen với nhiều loại nhà biệt thự ở Hà Nội và một số thành phố khác. Lớp kiến trúc sư này thường đã cao tuổi nên khi bắt tay vào những công trình mới của chủ nghĩa xã hội thường gặp những khó khăn nhất định. Vào đẩu và giữa những năm 60, những kiến trúc sư mới được đào tạo ở trong và ngoài nước bắt đầu phát huy tác dụng và dần dần thay thế các kiến trúc sư có tuổi. Riêng với kiến trúc nhà công nghiệp thì chủ yếu do các nước xã hội chủ nghĩa viện trợ đồng bộ gồm cả thiết kế.

Một số di tích kiến trúc tiêu biểu - P2 1

Đền An Dương Vương