Lạc Dương

Lạc Dương nằm ở bồn địa giữa sông Y Thủy và sông Lạc Thủy, phía tây tỉnh Hà Nam, là một trong bảy cố đô cổ xưa nhất của Trung Quốc. Những phát hiện khảo cổ chứng minh rằng 5-6 ngàn năm trước, tổ tiên người Trung Quốc đã sống và sinh sôi trên mảnh đất này. Lạc Dương là trung tâm hoạt động của nhà Hạ và nhà Thương, sau đó là kinh đô của 9 triều đại: Đông Chu, Đông Hán, Tào Ngụy, Tây Tấn, Bắc Ngụy, Tùy (Dạng đế), Đường (Võ Tắc Thiên), Hậu Lương, Hậu Đường, xứng danh với câu ca “Cửu triều và danh đô”. Nhiều triều đại khác khi đóng đô ở Trường An cũng thường lấy Lạc Dương làm kinh đô thứ hai tức kinh đô phụ của mình.

Lạc Dương 1

Ngoài những di chứng Văn hóa thời kỳ đổ đá mới, ở Lạc Dương còn có những di chỉ kiến trúc thành quách của các triều đại cổ như thành nhà Thương (thế kỷ thứ 11 tCn, chính là Vương Thành nhà Chu được ghi trong “Khảo Công Ký”, là kiểu mẫu về thành quách các triều đại phong kiến ở Trung Quốc). Nhà Chu lúc đầu đóng đô ở Trường An, năm 770 tCn Chu Bình Vương dời đô từ cảo Kinh (Trường An) đến Lạc Dương. Từ đó trong lịch sử đã gọi nhà Chu là nhà Đông Chu. Sau khi nhà Tần thống nhất Trung Quốc kinh đỏ ở Hàm Dương thì Lạc Dương được biên chế thành quận Tam Xuyên. Vào cuối thời Hán, đất nước loạn lạc, Lưu Tú là người trong hoàng tộc đem quân đánh chiếm Lạc Dương lên ngôi hoàng đế, lấy Lạc Dương làm kinh đô, lịch sử nhà Hán gọi là nhà Đông Hán. Nhưng đến thời Hán Hiến Đế năm 190, Đổng Trác buộc Hiến Đế phải dời đô lên Trường An, đuổi dân ra khỏi kinh thành, phóng hỏa đốt hết nhà cửa, cung điện và thành Lạc Dương bị tan hoang. Tào Tháo khi vào Lạc Dương thấy cảnh tượng hoang tàn đành bỏ Lạc Dương, đưa Hiến Đế về Hứa Xương. Đến năm 220 Ngụy Văn Đế Tào Phi cướp ngôi nhà Hán, cho xây dựng lại kinh thành Lạc Dương và dời đô về đây. Lạc Dương dần được hồi phục, đến thời Tấn trở nên thịnh vượng. Thời Tấn Lạc Dương có ba khu chợ: Chợ vàng trong kinh thành, chợ ngựa ở ngoại thành, và chợ cừu ở phía đông nam thành.

Cùng với sự phồn vinh của thành Lạc Dương, các quý tộc của triều đình đua nhau xây cất nhiều tư gia và vườn cảnh ở ngoại thành, nổi tiếng nhất là Kim Cốc Viên của Thạch Sùng, một người giàu có nổi tiếng. Là nơi phát tích nền văn minh cổ xưa của Trung Quốc, Lạc Dương cũng là nơi tàng trữ nhiều thành tựu văn hóa vật chất và tinh thần lớn lao của nhân dân các dân tộc Trung Hoa từ Hà đổ, Lạc thư, Bát quái, Cửu trùng, Hồng Phạm thời Phục”Hy cho tới Lễ, Nhạc đều là những khuôn vàng thước ngọc của phép trị nước, an dân thuộc thời Chu gây ảnh hưởng mãi tới hàng ngàn năm sau.

Thành Lạc Dương mở mang lớn nhất vào thời Bắc Ngụy, xây cất nhiều chùa, tiêu biểu nhất là chùa Vĩnh Ninh vào thời Thái Hậu Hồ Thị, ngoài ra cũng xây dựng công trình Phật giáo Long Môn. Chùa Bạch Mã (Bạch Mã Tự) ở phía đông Lạc Dương, được xây dựng vào năm Vĩnh Bình thứ bảy thời Đông Hán (năm 64). Tương truyền, Minh đế nằm mộng thấy đức Phật đằng vân quanh cung điện, bèn sai sứ giả sang Thiên Trúc (Ấn Độ) cầu Phật pháp. Năm Vĩnh Bình thứ mười, đoàn sứ giả rước kinh, thỉnh tăng về tới Lạc Dương. Năm Vĩnh Bình thứ mười một (năm 68 dương lịch) nhà vua xuống chiếu cho xây dựng chùa ở phía tây Ung môn để thờ Phật, chứa Kinh. Đây là ngôi chùa đầu tiên được xây dựng sau khi Phật giáo truyền vào Trung Quốc nên được gọi là “Tổ đình’’ hoặc “Thích Nguyên” (nơi gốc của Đạo Phật). Tên gọi Chùa Bạch Mã là để ghi lại sự việc đoàn sứ giả do Hán Minh đế phái sang Thiên Trúc cầu Phật Pháp khi trở về Lạc Dương “có ngựa trắng chở kinh Phật” dẫn đầu. Ngoài ra còn có đền Quan Lâm có ngôi mộ là nơi chôn cất thủ cấp Quan Vân Trường, một danh tướng thời Tam Quốc. Thời Hán Ngụy, Lạc Dương không chỉ là trung tâm chính trị kinh tế mà còn là trung tâm văn hóa. Nhà sử học kiêm văn học nổi tiếng thời Hán là Ban cố đã từng viết bộ Hán Thư tại thành Lạc Dương hoặc nhà khoa học Trương Hằng sáng chế dụng cụ địa chấn nổi tiếng. Đây cũng là nơi phát minh ra loại “giấy Thái Hầu” do Thái Luân đời Đông Hán sáng chế là một trong bốn phát minh lớn của Trung Quốc cổ đại: nghề làm giấy; nghề in; kim chỉ nam; thuốc nổ.

Lạc Dương 1

Đến đời Tống, tuy Lạc Dương không còn là kinh đô nữa, nhưng đây vẫn là một trung tâm văn hóa lớn, nơi tụ hội của nhiều danh nhân Trung Quốc. Nhà sử học nổi tếng thời Tống Tư Mã Quang đã sống và làm việc 15 năm tại đây để viết cuốn “Tự Trị Thông Giám” nổi tiếng. Lạc Dương cũng là nơi tụ hội nhiều triết gia, nhà văn, nhà thơ, sử học, địa lý nổi tiếng như: Lão Tử – tác giả Đạo Đức Kinh (ông tổ của môn phái triết học Đạo gia), Ban cố – tác giả Thủy Kinh Chú… Các nhà thơ Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị đã viết nhiều bài thơ tuyệt tác ở Lạc Dương. Lòng ái mộ văn chương nghệ thuật của cư dân Lạc Dương được truyền tụng qua giai thoại “Lạc duơng chỉ quý”. Thòi ấy, giá giấy ở Lạc Dương có lúc cao vọt lên vì nhiều người mua để đua nhau sao chép các tác phẩm thi văn, đặc biệt là Tam đô phú (bài phú về ba đõ thành) của Tả Tư thời Tây Tấn.

Ngày nay Lạc Dương là thành phố du lịch quan trọng vì nơi đây từng là kinh đô của nhiều triều đại phong kiến đầy ắp những di tích và văn vật lịch sử, đặc biệt là những di tích về Phật giáo. Một di tích Phật giáo rất hấp dẫn khách du lịch là quẩn thể Động Phật Long Môn (cách thành phô’ Lạc Dương 10km về phía nam). Núi Long Môn nằm bên bờ sông Y Thủy đối diện với núi Hương, hai bên là núi giữa là sông nên mới có tên là Long Môn. Trên núi Long Môn có nhiều hang đá tự nhiên rất thuận lợi cho việc tạc tượng. Thời Bắc Ngụy sau khi vua Thái Hoa dời đô về Lạc Dương vào năm 493, công trình điêu khắc tượng Phật trên núi Long Môn được bắt đầu. Trải qua 400 năm qua các triều đại Đông Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu Tùy Đường kiến tạo liên tục, đã hình thành một quần thể động Phật vĩ đại ở đây, gồm các động lớn như động cổ Dương, động Tân Dương, động Liên Hoa… Theo thống kê Long Môn có hơn 2100 khán Phật, 40 tháp Phật, 10 vạn bức tượng Phật lớn nhỏ và hơn 3000 bia ký, trong đó bức tượng Phật lớn nhất được tạc vào thời Võ Tắc Thiên gọi là Đại Lô Xá, tượng cao 17,14m riêng đầu tượng đã cao 4m. Tượng được điêu khắc rất cân đối, dáng tượng uy nghi thể hiện trình độ cao của nền điêu khắc thời Đường.

Lạc Dương còn thu hút du khách bốn phương trong và ngoài nước qua những lễ hội cổ truyền như: Hội Hoa mẫu đơn, Hội Chùa Cốc Thủy, Hội Chùa Bạch Mã và loại rượu nổi tiếng Đỗ Khang, loại rượu mà Ngụy Vũ đế Tào Tháo đã phải làm thơ để ca tụng: “Hà dĩ giải ưu, Duy hữu Đỗ Khang!” (Lấy gì giải buồn, chỉ có rượu Đỗ Khang!).
Sau cách mạng Tân Hợi 1911, Lạc Dương là nơi đặt cơ quan chính quyền Trung Hoa dân quốc cho đến năm 1948. Ngày nay Lạc Dương là thành phố trọng điểm kiến thiết của Trung Quốc rất nổi tiếng trong lĩnh vực công nghiệp nặng như: sản xuất máy kéo, vòng bi, gạch chịu lửa… đến nay thành phố có tổng diện tích 15.208km2, dân số trên 6 triệu người.