Di sản văn hóa kiến trúc và bản sắc đô thị Việt Nam – P4

Nội dung bài viết:

Sự bố trí trong kinh thành Thăng Long từ đầu thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVIII không có gì khác với kinh thành Thăng Long thời Lý – Trần, khu phía nam kinh thành vẫn là khu vực các quan lại và quân sĩ ở. Nhân dân ở khu vực các phường dân cư ngoài Hoàng thành không ngừng phát triển. Năm 1466, vùng kinh sư đặt thành phủ Trung đô gồm 2 huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương. Năm 1469, phủ Trung Đô đổi tên làm phủ Phụng Tiên. Khu dân cư của hai huyện Quảng Đức và Vĩnh Xương chia làm 36 phường, mỗi huyện 18 phường. Quy hoạch 36 phường của Thăng Long bắt đầu từ đó. Phường là một đơn vị hành chính cơ sở, tương đương với xã ở nông thôn cũng là nơi tập hợp những người cùng nghề. Cư dân 36 phường của Đông Kinh bao gồm cả nông dân, thợ thủ công và thương nhân, trong đó có những phố – chợ buôn bán tấp nập và những phường thủ công nổi tiếng.

Năm 1527, triều Mạc (1527-1592) thay thế triều Lê. Chính sách cai trị của triều Mạc nói chung có nới rộng hơn so với triều Lê và trong thời gian đầu, có tạo ra được tình trạng xã hội ổn định. Nhưng từ năm 1545, quyền bính lại nằm trong tay họ Trịnh. Đây là khởi đầu của chính quyền vua Lê – chúa Trịnh kéo dài đến năm 1786. Đông Kinh được trở lại tên gọi Thăng Long, là đô thành của triều Mạc, rồi của chính quyền vua Lê, chúa Trịnh. Mọi công việc tu tạo, kiến thiết ở đây đều nhằm phục vụ nhu cầu chính trị – quân sự của nhà nước phong kiến. Thành Đại La được xây đắp thêm vào thời này, rộng hơn thành Đại La vào thời kỳ trước vì đã đưa toàn bộ khu vực Hồ Tây vào trong phạm vi thành Thăng Long. Có thể coi công cuộc xây dựng vào thời Mạc đã ấn định vị trí và diện mạo của Hoàng thành Thăng Long suốt từ cuối thố kỷ XVI cho đến thế kỷ XVIII.

Một nét mới trong quần thể kiến trúc cung đình của Thăng Long thời Lê – Trịnh là sự xuất hiện cụm kiến trúc Phủ Chúa. Theo các bản đồ Thăng Long đời Lê thì Phủ Chúa ở phía nam tháp Báo Thiên và phía tây hồ Hoàn Kiếm lúc bấy giờ còn khá rộng, gồm hồ Tả Vọng và hồ Hữu Vọng. Kiến trúc chính của phủ Chúa gồm các cung điện nguy nga, có tường bao bọc hình vuông. Khái niệm thành – chính trị của Thăng Long đã có sự thay đổi, bao gồm cả khu hoàng thành và cả khu Phủ Chúa ngoài Hoàng thành.

Sau khi Tây Sơn thất bại hoàn toàn (1802), kinh thành Thăng Long cũng như toàn miền Bắc đều thuộc quyền thống trị của nhà Nguyễn và có sự chuyển đổi lớn đối với đô thị Thăng Long, từ kinh thành 800 năm trước trở thành trấn thành rồi trỏ thành tỉnh thành. Do các chúa Nguyễn đã từng ở Phú Xuân (Huế) trong mấy trăm năm, ảnh hưởng của nhà Nguyễn tại miền này có nhiều nên vua Gia Long nhà Nguyễn quyết định đóng đô ở Phú Xuân, đổi kinh thành Thăng long làm trấn thành miền Bắc.

Hoàng thành Thăng Long cũ, ở thời Gia Long, chỉ là lỵ sở của tổng trấn Bắc thành nên không mang tên là Hoàng thành. Năm 1805, Gia Long hạ lệnh phá bỏ Hoàng thành cũ, vì vua không đóng đô ở Thăng Long mà Hoàng thành Thăng Long thì quá rộng lớn. Vì thê’ thành xây dựng lại ở Thăng Long thời nhà Nguyễn đã nhỏ đi rất nhiều so với Hoàng thành Thăng Long của các thời trước.

Sự tu bổ, vun đắp đối với Hoàng thành cho đến thời Tây Sơn là chấm dứt. Khi Gia Long lên ngôi được hơn một năm thì bắt đầu phá bỏ thành cũ và đến năm 1805 thì xây thành mới nhỏ hơn với sự giúp đỡ của người Pháp và theo kiểu Vauban của Pháp, với chức năng là một trấn thành.

Xung quanh tường thành là một dải đất (rộng 6-7 mét) rồi đến một con hào (rộng 15-16 mét sâu 5 mét) phía ngoài các cửa thành có xây một hàng tường đắp liền trên bờ hào, gọi là Dương Mã thành (tức giác thành hay mang cá). Các Dương Mã thành đều có một cửa bên gọi là Nhân Môn rồi mới tới cửa thành. Những hào xung quanh về sau vào thời Pháp bị lấp đi để làm đường, trên bản đồ Hà Nội hiện nay là 4 đường Hùng Vương (tây), Phan Đình Phùng (bắc), Phùng Hưng (đông), Trần Phú (nam).

Vào thời Nguyễn, sự sắp xếp bên trong thành bố trí đại thể như sau: ở giữa là điện Kính Thiên, thềm điện bằng đá có chạm hình rồng, gần điện có hành cung để khi nhà vua ra Thăng Long làm chỗ ngự. Từ điện Kính Thiên đi ra là cửa Đoan Môn, phía ngoài Đoan Môn dựng một đình bia ghi công trạng của vua Gia Long. Phía đông là dinh các quan lại như dinh tổng đốc, tuần phủ, án sát, đề đốc, phía tây là các kho thóc, kho tiền và dinh Bố chính (quan phụ trách kho).

Năm 1812, Cột cờ được xây dựng ở phía nam gần đình bia. Cột cờ cao hơn 30 mét, hình lục lăng đặt trên một bệ tam cấp, đều xây bằng gạch gốm. Tam cấp hình vuông: cấp trên cùng cạnh dài 15 mét, cấp dưới cùng cạnh 42 mét. Trên đỉnh tháp có lầu quan sát là phần được xây dựng thêm khi Pháp chiếm đóng thành, được dùng như một phương tiện thông tin liên lạc với các cơ sở khác của Pháp ở Hà Nội.

Từ nửa sau thế kỷ XVII, toàn bộ kinh thành Thăng Long vẫn được bao bọc bởi một hệ thống thành lũy như một hệ thống đường đê khép kín, mặt thành quan trọng nhất là ở phía đông tiếp giáp với sông Hồng, được mở nhiều cửa để thuận tiện cho sự thông thương, ngày nay còn dấu tích ô Đông Hà (tức ô Quan Chưởng ở phố Hàng Chiếu).

Tuy triều đình nhà Nguyễn không đóng ở Thăng Long và đối với Thăng Long nhà Nguyễn chủ trương phá hoại nhiều hơn kiến thiết, nhưng tại khu vực kinh thành cũ của Thăng Long trong nửa đầu thế kỷ XIX, vẫn có thêm những công trình xây dựng mới hoặc do nhân dân làm hoặc do các quan lại đứng ra quyên góp để làm. Chẳng hạn, đền Ngọc Sơn ở hồ Hoàn Kiếm đã được xây dựng thêm nhiều. Năm 1856, Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, đã tổ chức việc sửa lại đền, xây dựng đình Trấn Ba ở phía trước đền và bắc cầu Thê Húc để đi từ bờ phía đông hồ Hoàn Kiếm vào đền, dựng ở cổng đền một tháp Bút và một đài Nghiên để biểu dương không khí học tập của nơi ngàn năm văn vật. Tháp Bút xây bằng đá cao 9 mét, cạnh đáy 2,2 mét, đặt trên một gò đá, đài Nghiên hình nửa trái đào đường kính 1,2 mét.

Di sản văn hóa kiến trúc và bản sắc đô thị Việt Nam - P4 1

Văn Miếu

Vào thời này, một số công trình có liên quan đến tinh thần hiếu học của dân tộc như Trường Thi, nhà Văn Miếu được tu sửa. Trường thi Hương từ thế kỷ XVIII trở về trước, đặt ở Quảng Bá gần Hồ Tây, đến thời Nguyễn thì đưa vể khu vực Tràng Thi ngày nay. Văn Miếu đã có ở Hà Nội từ thế kỷ XI, được các thời sau tiếp tục tu sửa. Năm 1802, Gia Long xây Khuê Văn Các ở Văn Miếu bỏ nhà Thái Học lấy đó làm nhà thờ Khải Thánh để thờ cha mẹ Khổng Tử; năm 1858, dựng thêm hai nhà Tả vu và Hữu vu ở hai bên nhà Đại bái. Khuê Văn Các là công trình được xây thêm vào tổng thể khu Văn Miếu, là điểm cao đột xuất trên trục chính hài hòa vởi khung cảnh chung. Khuê Văn Các đã trở thành một biểu tượng của nền văn hóa và kiến trúc Hà Nội.

Như vậy là trong thời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX đến trước khi Pháp chiếm được thành Hà Nội) Hoàng thành Thăng Long tuy có bị phá đi để xây một tỉnh thành nhỏ hơn, các cung điện của nhà vua, các dinh thự của triều đình tuy có bị hủy đi vì vua không đóng đô ở Thăng Long, nhưng nói chung toàn bộ kinh thành Thăng Long vẫn không thay đổi về căn bản. Khu vực nhân dân ở là khu vực chủ yếu của kinh thành đã mở rộng hơn xưa và ngày càng phát triển thêm. Khu vực phía bắc quận Hoàn Kiếm của Hà Nội ngày nay thường gọi là khu “36 phố phường” đã được hình thành chủ yếu vào thời kỳ này.

Xem thêm: Ban nha Ha Noi gia 1 ty