Di sản văn hóa kiến trúc và bản sắc đô thị Việt Nam – P2

Giai đoạn phát triển rực rỡ của đất nước vào các thời Lý, Trần, Lê… đã tạo cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của nền văn hóa dân tộc mà trong đó có nghệ thuật kiến trúc. Bên cạnh những lâu đài, cung điện, các kiến trúc gắn bó với sinh hoạt văn hóa tinh thần là một bộ phận rất quan trọng của di sản văn hóa kiến trúc ở thời kỳ này, đó là các chùa, tháp, đền, miếu. Ngày nay kề cận về phía Bắc của Thăng Long – Hà Nội ta vẫn có thể thấy được quy mô to lớn của chùa Dạm (thế kỷ XI) qua những dấu tích còn lại, chùa Dâu (thế kỷ II) được coi là trung tâm Phật giáo sớm nhất ở Việt Nam, chùa Phật tích (thế kỷ XI, trùng tu lớn vào thế kỷ XVII), chùa Bút Tháp (thế kỷ XII, trùng tu thế kỷ XVII)… đều là những kiệt tác của nghệ thuật kiến trúc Việt Nam.

Về phía Tây của Thăng Long – Hà Nội cũng còn lưu giữ được những di sản kiến trúc có giá trị không kém, đó là chùa Mía (thế kỷ XVII), chùa Thầy (thế kỷ XII), chùa Trăm Gian (thế kỷ XII), chùa Tây Phương… hoặc về phía Đông và Đông Nam có các chùa Phổ Minh, chùa cổ Lễ ở Nam Định, chùa Keo ở Thái Bình, chùa Hương Lãng ở Hải Dương… Riêng phạm vi ở bên trong của Thăng Long – Hà Nội, những kiến trúc tôn giáo có giá trị là chùa Một Cột (thế kỷ XI), chùa Láng (thế kỷ XII), chùa Kim Liên (thế kỷ XII, trùng tu thế kỷ XV, thế kỷ XVIII)…
Cũng trong thể loại kiến trúc tín ngưỡng còn phải kể đến các đền, miếu và các ngôi đình. Bốn ngôi đền thờ các vị thần bảo hộ cho đất kinh thành (Thăng Long tứ trấn) đểu là những kiến trúc có giá trị. Đó là đền Bạch Mã (phía Đông), đền Voi Phục (phía Tây), đền Quán Thánh (phía Bắc), đền Kim Liên (phía Nam). Nhiều đền thờ các anh hùng dân tộc: đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương), đền thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn…

Đặc biệt có giá trị là Văn Miếu – Quốc Tử Giám, nơi thờ Khổng Tử đồng thời cũng là cơ sở giáo dục và đào tạo bậc cao vào năm 1070 làm nơi thờ các thánh hiền đạo Nho và đến năm 1076 phát triển thêm nhà Quốc Tử Giám ở phía sau làm nơi học của các hoàng tử và học trò giỏi của cả nước. Tổng thể công trình nằm trong một khuôn viên rộng, bao gồm nhiều không gian nối tiếp nhau theo chiểu sâu và ở chính giữa là công trình gác Khuê Văn soi bóng xuống mặt nước của giếng Thiên Quang, được coi là hình ảnh tiêu biểu của nền văn hóa Việt Nam cũng như của Thăng Long – Hà Nội.

Di sản văn hóa kiến trúc và bản sắc đô thị Việt Nam - P2 1
Cảnh quan Hồ Gươm

Các ngôi đình là dấu tích của các làng xã xưa còn lại trên địa bàn Thăng Long – Hà Nội cũng là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa và di sản kiến trúc. Trong phạm vi nội thành ta còn thấy được đình làng Ngọc Hà, đình làng Yên Phụ, đình làng Đỏng Ngạc, đình làng Nhân Chính, đình làng Triều Khúc… hoặc ở xa hơn một chút là những đình được coi là những kiệt tác của kiến trúc Việt Nam như đình làng Đình Bảng (Bắc Ninh), đình làng Chu Quyến, đình làng Tây Đằng (Hà Tây)… Bộ khung gỗ của các ngôi đình cũng là nơi lưu giữ các tác phẩm của nghệ thuật điêu khắc với những chủ đề sinh hoạt trong dân gian vô cùng phong phú.

Kiến trúc nhà ở là một mặt quan trọng của di sản văn hóa và kiến trúc dân tộc, nhà dân gian trong khu thị dân của kinh thành Thăng Long mà nay ta quen gọi là “khu 36 phố phường”, được xem là sự kết tinh của nghệ thuật kiến trúc nhà ở dân gian đã rất phát triển ở các vùng nông thôn nay lại được phát triển thêm bước nữa trong khung cảnh đô thị. Đây là nơi cư trú của người dân sinh sống với các nghề thủ công truyền thống vốn có ở nhiều làng xã xưa nay được du nhập vào chốn thị thành. Nơi đô hội đất chật người đông không cho phép các kiểu nhà ở dàn trải như nông thôn mà trái lại mặt nhà trông ra đường phố phải thu hẹp, đây cũng là nơi bày bán các mặt hàng thủ công do họ làm ra. Sinh hoạt gia đình được đưa lùi vào bên trong theo chiều sâu của nhà và từ đó đã hình thành kiểu nhà rất đặc trưng trong khu phố này: kiểu “nhà ống”.

Trải qua năm tháng, nhất là khi có sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây, kiến trúc nhà ở cũng có những yếu tố phát triển mới, cùng với sự hình thành các khu phố mới ở phía nam quận Hoàn Kiếm và ở quận Ba Đình. Đây là nơi được xây dựng với những kinh nghiệm về phát triển đô thị của châu Âu với các đường phố kẻ ô như kiểu bàn cờ, nhà cửa có quy mô to lớn hơn, đặc biệt là các kiến trúc công cộng mà trong đó không ít đã góp phần bổ xung cho quỹ di sản văn hóa kiến trúc của Thăng Long – Hà Nội. Đó là các công trình như Nhà hát thành phố, Phủ Chủ tịch, Bảo tàng lịch sử, Nhà khách Chính phủ…

Miền đất Thăng Long – Hà Nội nằm trên địa bàn châu thổ sông Hồng, là nơi định cư và phát triển nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước ở về phía Nam của nước Văn Lang vào thời các vua Hùng. Khoảng thế kỷ III trước Công nguyên, vua Thục thay vua Hùng đã đưa trung tâm của nước Việt cổ từ vùng trung du tới nơi tiếp giáp với vùng đồng bằng, xây dựng thành cổ Loa làm kinh đõ của nhà nước Âu Lạc.

Di sản văn hóa kiến trúc và bản sắc đô thị Việt Nam - P2 1

Nhà cổ khu 36 phô phường
Nhà trong khu phô cổ

Thành Cố Loa được xây dựng trên bờ sông Hoàng (còn gọi là sông Thiếp) có nhánh thông với một hồ nước lớn được gọi là Đầm cả, liên kết với các hào nước ở chân thành tạo thành một mạng lưới giao thông thủy rất thuận tiện cho việc điều quân liên kết trên bộ dưới thuyền. Theo truyền thuyết, Cổ Loa có 9 vòng thành “hình trôn ốc” như di tích còn lại đến nay có 3 vòng thành đắp bằng đất (như con đê): Thành Trong hình chữ nhật chu vi 1,6km, Thành Giữa hình đa giác uốn lượn tự nhiên dài 6,5km và Thành Ngoài dài 8km.
Thân thành có độ cao từ 4 đến 5m, cá biệt có chỗ cao hơn 10m, chân thành rộng vài chục mét. Các cửa của 3 vòng thành được bố trí khéo léo không cùng nằm trên một đường thẳng mà lệch chéo đi. Như vậy, quân địch muốn xâm nhập thành phải đi theo một đường quanh co và có nhiều ụ phòng ngự cản trở. Các tài liệu khảo cổ cho biết chân thành được kè đá, các lớp đất đắp thành có xen lẫn các lớp mảnh gốm rải rác.

Theo các dấu tích còn lại, nhiều tài liệu đoán định Thành Trong có 12 cửa, Thành Giữa có 5 cửa và Thành Ngoài có 4 cửa. Phía ngoài các vòng thành đều có hào nước thông với Đầm cả và với sông Hoàng. Dấu tích của thành còn lại đến nay cho thấy thành đã được sửa đắp nhiều lần. Các ụ phòng ngự (hỏa hồi) có thể đã được đắp vào thời nhà Hán đô hộ nước ta, kể cả vòng thành trong cũng vậy.

Xem thêm: Bán nhà nhanh chóng. Dễ dàng. Đăng tin của bạn tại Bán nhà Hải Phòng