Đất nước hoa anh đào, bản sắc văn hoá và bản sắc đô thị – P2

Trong thời Nara, Khổng giáo và Phật giáo bắt đầu được truyền bá rộng rãi ở Nhật Bản, cũng là thời kì văn hoá truyền thống của Nhật Bản được hình thành và phát triển. Thần đạo (Shinto) là tôn giáo đầu tiên của người Nhật. Họ tin mọi vật trong thiên nhiên đều ẩn chứa một vị thần (Kami). Họ cho rằng Nhật hoàng đầu tiên là hậu duệ của nữ thần Mặt trời, từ đó hoàng đê’ cũng là một vị thần.

Phật giáo từ Trung Quốc đã du nhập vào Nhật Bản, dân cư Nhật tin theo một phái Phật giáo gọi là Thiền tông. Họ quen sống thanh bạch và giản dị, tình yêu thiên nhiên trở thành một tâm thức trong lối sống mang sắc thái tín ngưỡng. Các sản vật tự nhiên như cây cối, động vật đểu có thần trú ngụ và phải được tôn thờ. Từ đó đi ngắm hoa, ngắm cảnh thiên nhiên trở thành một phong tục của người Nhật. Mỗi loại cây và hoa đều mang tính tượng trưng và có ý nghĩa thiêng liêng. Các loại cây như tre, thông, mận là biểu tượng của sự lâu bển và của tuổi thọ. Nơi núi non thâm sơn cùng cốc được người dân yêu mến coi đó là chỗ yên tĩnh, thanh bình, trong lành và nên thơ. Họ thường đặt đền thờ trên các núi non, tên gọi của nhiều đền thờ hoặc tu viện thường có âm tiết “san” là để chỉ về ngọn núi, như Koyasan và Kiyeisan là những tu viện nổi tiếng ở Nhật Bản, Fujisan là núi Fuji (tức Phú Sĩ).

Tâm thức đó đã chi phối cách thức tạo dựng ngôi nhà ỏ trong không gian của người Nhật, đối với họ nhà và vườn phải nằm trong một quan niệm tổng thể. Đặc trưng gắn bó kiến trúc trong thiên nhiên thể hiện rõ nhất ở một loại hình nghệ thuật rất đặc sắc của người Nhật và mang rõ đặc tính Thiền, đó là nghệ thuật uống trà được thực hiện như một nghi lễ trong một không gian thanh khiết và tĩnh lặng: trà thất tức một thảo đường để uống trà.

Tâm tính của người Nhật thể hiện qua lối sống hàng ngày trong đó có việc uống trà. uống trà là cả một nghệ thuật, một nghi lễ, được gọi là “trà đạo”, xuất hiện từ thời Muromachi (1333 – 1573), cùng lúc với nghi lễ cắm hoa và uống rượu sakê. Nghi thức uống trà kết hợp các đặc tính về sự hài hoà giữa các đồ uống trà, giữa khách và chử, tâm hồn phải trong sạch (tĩnh tâm) theo tinh thần Thần đạo. Phòng trà rất hẹp, thể hiện sự khiêm tốn, vật liệu xây dựng và các đường nét kiến trúc đều giản dị, trang trọng, chủ yếu là bằng tre và các vật liệu tầm thường khác. Vào phòng trà qua cửa hẹp và thấp để tâm hồn ở trạng thái khiêm tốn, tĩnh lặng. 

Vườn trà là một lối nhỏ trong vườn từ cổng dẫn đến trà thất, có quan hệ với trà thất lối đi rất nhỏ và hẹp. Mục tiêu của vườn trà nhằm tạo ra một không khí của cảnh vật thiên nhiên với vẻ mộc mạc và bình dị. Vườn trà phải thể hiện được một cảm giác cô quạnh hoà hợp với cảnh vật thiên nhiên rộng lớn trong một khoảnh đất nhỏ bé trước khi bước vào trà thất. Nhằm mục đích đó nên cây trồng trong vườn là cây xanh và không có hoa. cỏ dưới chân cũng rất quan trọng để tạo ra cảm giác đó, rêu đất cũng rất được ưa chuộng vì nó tạo cho khu vườn một cảm giác êm ái và vắng lặng.

Trong việc triển khai khuôn viên vườn trà thì việc xếp đặt các phiến đá đặt chân (gọi là tobi-ishi) là quan trọng nhất, không chỉ vì vẻ đẹp của khu vườn mà còn có tính thực dụng, nó hướng dẫn bước chân người đi vào.Vật quan trọng tiếp sau trong vườn trà là chum nước đặt gần trà thất, đó là chum đá đựng nước rửa tay, và có nhiều phiến đá đặt bên cạnh chum. Cây đèn đá cũng là vật không thể thiếu trong vườn trà.
Ở chùa Kozan-ji (Giáp Sơn Tự) nằm trên núi Toganoh vào thế kỷ XII có vườn trà Nhật Bản cổ xưa nhất. Người xưa kể lại rằng thiền sư Myoe, người sáng lập chùa, đã trổng tại chùa những hạt giống trà được một thiền sư khác mang về từ Trung Quốc. Nghi thức uống trà (chanoyu, Trà Nghi) cũng có nguồn gốc từ Thiền, phòng uống trà rất mộc mạc, giản dị, nơi uống trà thân mật ấm cúng.

Cùng với trà đạo, cắm hoa cũng là sự kết hợp với thiên nhiên, gợi ra cảnh sông núi bao la chỉ với một ít nước và một cành hoa. Hoa cắm trong bình phải có phong cách, với sự sắp xếp được quy định. Lúc đầu nghệ thuật cắm hoa chỉ dành cho quý tộc, triều đình và võ sĩ, đến thế kỉ XVIII đã lan sang các giới thị dân giầu có. Từ thế kỉ XIX dân chúng đều chơi cắm hoa. cắm hoa là một nghệ thuật phải dày công học tập, hiện nay ở Nhật Bản có rất nhiều trường phái cắm hoa khác nhau.
Xem xét bản sắc văn hoá Nhật Bản không thể không biết đến các ảnh hưởng của Trung Quốc. Từ những năm 57, các sứ giả Nhật được phái đến Trung Quốc. Trong 800 năm tiếp theo, người Nhật du nhập nhiều tư tưởng của Trung Quốc. Một chính quyền và hệ thống thuế theo kiểu Trung Quốc được thiết lập. Các kinh đô ở Nhật được quy hoạch giống như kinh đô Trường An của Trung Quốc. Chữ viết và nghệ thuật Trung Quốc cũng đến Nhật.

Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ thông qua Trung Quốc và Triều Tiên đến Nhật vào thế kỷ VI. Nhiều đền thờ được xây dựng và phần lớn nhân dân theo đạo và theo Phật giáo. Chùa Todaiji ở Nara có tượng Phật bằng đồng cao 16 mét, là công trình tôn giáo tín ngưỡng quan trọng ở thời kỳ này.

Ở thời Nara Nhật Bản tiếp xúc nhiều với Trung Hoa đang thịnh vượng dưới triều các hoàng đế nhà Đường. Việc giao tiếp không chỉ giới hạn ở bổ nhiệm sứ thần mà cả một dòng các sư tăng, và thương nhân dong buồm qua lại giữa hai xứ sở. Nghệ thuật thời Đường đã có một ảnh hưởng to lớn đối với nghệ thuật Nhật Bản thời này. Ở Nhật Bản, Hoàng đế và Hoàng hậu đều tôn trọng cả Phật giáo lẫn Khổng giáo; Phật giáo dẫn dắt tinh thần cho quần chúng, Khổng giáo cung cấp nguyên tắc cai trị, cho nên cả hai giáo đạo đều được phát triển. Hoạt động của Phật giáo biểu hiện theo chiều hướng: xây dựng nhiều chùa chiền như chùa Yamashina, chùa Sufuki, chùa Daian, chùa Taima và chùa Yakushi; tạo nhiều tượng Phật, đọc kinh Phật tại Cung đình và trong dân chúng để được độ trì. Các hoạt động Phật giáo đã tạo nên sức thúc đẩy mạnh mẽ để phát triển nghệ thuật và công nghệ, bừng lên rực rỡ dưới triều Hoàng đế Shomu vào thế kỷ VIII.

Vào năm 710, kinh đô đóng ở Nara và trụ ở đấy cho đến 794 trước khi chuyển về Kyoto.
Chính sách trung ương tập quyền thực thi dưới triều đại Kotoku (645 – 654) đã lên đến đỉnh điểm dưới triều Hoàng đế Shomu (724 – 748), người được thụ hưởng hoà bình thịnh vượng và nối nghiệp Hoàng triều. Ảnh hưởng văn minh từTrung Hoa đến vẫn tiếp tục được phát huy dưới triều đại của ông.
Nara thời bấy giờ trông bên ngoài rất giống với kinh đô Tràng An của Trung Hoa, đến mức nhiều người cho rằng Trung Hoa đối với Nhật Bản như thểAten đối với Rỏma.
Trung Hoa thời đó đã là một quốc gia giẩu mạnh và kinh đỏ Tràng An đã thực sự là một trung tâm của một nền văn minh rực rỡ. Nhật Bản cử sứ thần, sư tăng và sinh viên sang Trung Hoa học hỏi nền văn hoá đang rực rỡ ở kinh đô Tràng An. Họ đem về nước tinh tuý của nền văn hoá đó và cấy lại ở Nara. Vào nửa đẩu thế kỷ VII, Phật giáo đã gắn bó thân thiết và trọn vẹn nhất với cung đình và nhà nước với vai trò nổi bật của Hoàng đế Shomu. ồng là một tín đồ Phật giáo sùng đạo, đã ra sức điều hành cai trị bằng chính giáo lý nhà Phật chứ không phải bằng luật pháp. Các chùa ở kinh đô, cũng như ở các tỉnh, được xây cất đã theo đúng chỉ dụ của ông.

Đất nước hoa anh đào, bản sắc văn hoá và bản sắc đô thị - P2 1

Chùa Todaiji

Đất nước hoa anh đào, bản sắc văn hoá và bản sắc đô thị - P2 1

Chua Horyuji

Chùa Todaiji là một chùa chính ở Nara do ông chỉ đạo. Gần Nara, còn có những ngôi chùa to lớn như chùa Horyuji, Yakushi, Gangô, Tôshôdai và Saidai. Mỗi tỉnh đều có một chùa tỉnh gọi là chùa Kokobun các vị tỉnh trưởng phải tỏ lòng kính trọng tột bực đối với chùa tỉnh, coi chùa là trung tâm đời sống xã hội. Ngày nay hãy còn nhiều di tích chùa tỉnh, được chính quyển bảo vệ và coi như di tích lịch sử.